Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Cuộc phiêu lưu mới của Vladimir Putin tại Trung Đông


Ngày 24/11/2015, truyền thông toàn cầu xôn xao với loạt tin và hình ảnh về chiếc oanh tạc cơ Su 24 của Nga bị bắn hạ gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Lần đầu tiên trong 40 năm qua, một máy bay quân sự Nga bị bắn hạ bởi lực lượng quân sự một nước thuộc NATO. Sự kiện này ngay lập tức chứng minh tầm vóc của nó đối với nền tài chính toàn cầu.




Theo Wall Street Journal, giá chứng khoán toàn cầu  sụt giảm ngay sau khi Bộ Quốc phòng Nga xác nhận máy bay chiến đấu  Su-24 của nước này bị bắn hạ.

Chỉ số chứng khoán  Stoxx Europe 600 giảm 1,2%, giá cổ phiếu Mỹ sụt 0,4%. Ở châu Âu, giá cổ  phiếu các hãng hàng không và công ty du lịch tuột dốc mạnh.

Tại châu Á, chỉ số chứng khoán S&P 200 (Úc) giảm  1%, Hang Seng (Hong Kong) 0,4%, Nikkei (Nhật) 0,2%... Giới phân tích cho  biết các nhà đầu tư lo ngại nguy cơ căng thẳng và đối đầu leo thang  giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ.

Giá dầu thô Brent biển Bắc  tăng 1,3% lên 45,39 USD/thùng do mối lo ngại căng thẳng giữa hai nước sẽ  khiến xung đột ở Trung Đông thêm nóng bỏng. Trong khi đó, cả giá đồng  lira Thổ Nhĩ Kỳ và đồng rúp Nga cũng đều sụt giảm.

Tại  thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, theo cập nhật từ Bloomberg, chốt phiên giao dịch  hôm 24/11, đồng lira của nước này giảm mạnh nhất so với 24 đồng tiền  khác của nhóm các nước mới nổi. So với USD, đồng lira mất 0,6% giá trị  và chốt phiên ở mức 2,8679 Lira/USD.

Chỉ số Borsa Istanbul 100 của thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ thì rớt hơn 2%, xuống mức thấp nhất trong một tháng.

Trong nỗ lực đối phó với sự cố bất ngờ, Thổ Nhĩ Kỳ nhanh chóng đề nghị một cuộc họp khẩn cấp với các đối tác NATO. Rõ ràng người Thổ không thể đứng một mình để xử lý cuộc khủng hoảng này và cần phải dựa vào liên minh quân sự hùng mạnh mà họ là một thành viên.

Nước Nga cũng ngay lập tức đáp lời. Giữa cuộc gặp với vua Jordan Abdullah II ở Sochi, Putin dùng từ ngữ nặng nề để mô tả về hành vi của Thổ Nhĩ Kỳ, coi đó là hành động đâm dao sau lưng của những kẻ đồng lõa với khủng bố. Tuy nhiên, Putin không phát khùng, ông ta không nhắc tới các biện pháp đáp trả quân sự trong bài phát biểu ngắn của mình.  Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên NATO, không phải là Geogia hay Ucraine.

Điều gì đã diễn ra và tại sao tiêm kích F16 của Thổ Nhĩ Kỳ lại khai hỏa vào máy bay Nga, một động thái chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng nặng đến đất nước này dù nhìn dưới bất cứ góc độ nào? NATO không phải là một tấm áo choàng có thể đem lại an ninh tuyệt đối cho bất cứ quốc gia nào khi đối đầu với Nga, bởi đây là một trong số rất ít các cường quốc có thể hủy diệt bất cứ đối thủ nào với bộ máy quân sự khổng lồ của nó. Trong nhiều năm qua, việc máy bay các nước bay lạc vào không phận của nhau trong thời gian ngắn khi hoạt động ở vùng trời giáp giới không phải là một sự kiện cá biệt và phần lớn chúng đều được xử lý hòa bình. Kể từ khi Nga mang máy bay ném bom đến Syria, đã nhiều lần máy bay Nga ít nhiều bay lạc sang không phận Thổ Nhĩ Kỳ khi oanh tạc các mục tiêu của IS và lực lượng đối lập tại Syria. Tất cả các trường hợp đều được xử lý trong sự kiềm chế của cả hai phía và ngay chính bản thân Nga cũng thừa nhận lỗi thuộc về phần mình khi các phi công có sự sai sót đối với các thiết bị dẫn đường mặt đất. Lần này F16 khai hỏa bằng tên lửa Sidewinder X9, một loại vũ khí có xác suất diệt mục tiêu cao nhất của không quân Thổ Nhĩ Kỳ. Để tô điểm thêm cho tấn bi kịch, lực lượng đối lập gốc Thổ Turkmen tại Syria loan truyền đoạn Video cho thấy họ bắn hạ một trực thăng Mi8 của Nga đang tiến hành giải cứu hai phi công nhảy dù từ chiếc Su24 bị bắn rơi. Cũng trong ngày 24/11, nhiều nguồn tin chưa được kiểm chứng thì lực lượng đối lập Turkmen tuyên bố đã bắn hạ cả hai phi công trên chiếc Su24 ngay khi họ nhảy dù. Những tin tức nặng nề này không đem lại điều gì tốt đẹp cho Thổ Nhĩ Kỳ và cả nước Nga, và có thể đẩy cả hai vào một cuộc phiêu lưu không mong muốn, thậm chí có thể dẫn động tới một cuộc chiến toàn cầu.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng đột ngột này bắt nguồn từ đâu? Trong cuộc họp G20 gần đây nhất, Vladimir Putin dù không chỉ đích danh nhưng thẳng thừng đề cập về việc có những quốc gia trong nhóm G20 đang tài trợ cho nhà nước khủng bố IS tại Iraq và Syria. Quốc gia G20 duy nhất tại Trung Đông, giáp giới với Syria, là Thổ Nhĩ Kỳ. Trong ít ngày qua, oanh tạc cơ Nga không còn thuần túy đánh vào các lực lượng quân sự của IS và các lực lượng đối lập. Đã có những đòn oanh tạc nặng nề vào các giếng dầu, các nhà máy lọc dầu đang nằm dưới quyền kiểm soát của IS và đặc biệt là các đòn oanh tạc của không quân Nga vào các đoàn xe chở dầu của IS với hàng nghìn chiếc nối đuôi nhau. Hướng tới của các đoàn xe đó, bao gồm biên giới của Thổ Nhĩ Kỳ. Đến đây câu chuyện trở nên sáng sủa hơn nhiều. Người Thổ đang cảm thấy bị mất mối làm ăn, khi việc buôn lậu dầu giá rẻ của IS đang đem lại cho họ những khoản lợi nhuận kếch xù bất chấp IS đang tiến hành những hành động tàn sát tại Trung Đông hay đánh bom giữa châu Âu. Bài toán với Thổ Nhĩ Kỳ khá đơn giản: Họ đang kiếm được tiền và chẳng có giọt máu nào của người Thổ rơi khi người Iraq hay Syria bị chặt đầu. Thậm chí trong 130 người thiệt mạng trong vụ đánh bom của IS tại Paris cũng chẳng hề có người gốc Thổ. Vì vậy mà F16 đã khai hỏa vào hai chiếc Su24, khi chúng hoạt động sát biên giới Thổ Nhĩ Kỳ mà theo lời chỉ huy căn cứ không quân gần đó của Nga, thì vừa kết thúc hoạt động oanh tạc vào một đoàn xe chở dầu của IS. Đoàn xe chở dầu của IS gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, không khó hình dung đích đến của chúng là ở đâu và ai là người đang kiếm lợi.

Cuộc phiêu lưu này sẽ đi đến đâu? Rõ ràng các nước giữa châu Âu đang bị đặt vào một bài toán khó. Khi cuộc đánh bom rung chuyển Paris vừa mới diễn ra. Các thiết bị nổ được tìm thấy trong nhiều cuộc bố giáp tại Đức, Pháp, Bỉ cho thấy IS sẽ không chỉ dừng ở đó thì cuộc chiến của Nga đang được nhiều nước châu Âu hoan nghênh. Và hành động kiếm tiền trên xương máu đồng minh của Thổ Nhĩ Kỳ chắc hẳn sẽ gây phẫn nộ với nhiều người Pháp. Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia Hồi giáo thế tục duy nhất tại NATO, không phải lần đầu tiên khiến người châu Âu ở một nền văn minh khác phải nhìn với ánh mắt kỳ thị và ghét bỏ. Tuy nhiên, trong luật chơi toàn cầu, quyền lợi quốc gia bao giờ cũng mạnh hơn các khái niệm về đạo đức. Việc người Nga mang cỗ máy chiến tranh đến Syria cũng chẳng phải vì mục tiêu diệt khủng bố để bảo vệ hòa bình hay công lý toàn cầu. Nước Nga cần bảo vệ đồng minh Syria, nước duy nhất cho phép Nga đặt căn cứ quân sự tại Trung Đông khi các đòn tiến công của IS và lực lượng đối lập Syria đang đẩy Bashar al-Assad vào bước đường cùng. Nhưng đó không phải là lý do quan trọng nhất để Nga điều động bộ máy chiến tranh đang có phần rệu rã vì thiếu tiền và đồng rup mất giá kỷ lục kể từ cuộc xung đột với Ucraine. Putin đang dốc những đồng dự trữ quốc gia vốn không còn nhiều cho cuộc phiêu lưu tại Trung Đông để cứu vãn giá dầu vốn là sức mạnh chính của nước Nga trong hai thập niên qua. Chiến tranh càng lan rộng tại cái rốn dầu của thế giới, thì giá của nguồn tài nguyên quan trọng sống còn này sẽ càng tăng theo các bước leo thang. Sự kiện Su24 bị bắn rơi, sẽ là một nấc thang mới cho lò lửa chiến tranh ở Trung Đông.

Không khó để hình dung các bước tiếp sau của sự kiện này. Thổ Nhĩ Kỳ hầu như không thể tìm kiếm sự trợ giúp từ các đồng minh NATO để ứng phó với cuộc khủng hoảng. Người Mỹ, người Anh hay người Pháp chẳng ai hài lòng gì với lối bắt tay IS kiếm tiền của Thổ. Đã từ lâu, chính Thổ Nhĩ Kỳ là con đường để các thành phần cực đoan châu Âu tới Syria tham gia IS và cũng từ đó trở về châu Âu và trở thành những nhân tố gây bất ổn tiềm tàng. Điều 5 của hiến chương NATO cũng không thể được Thổ vận dụng. Chẳng có trái bom hay phát đạn nào của Nga rơi trên đất Thổ và máy bay Nga cũng rơi cách biên giới Thổ Nhĩ Kỳ tới 4 km. Thậm chí chính người Pháp chứ không phải người Nga sẽ chất vấn Thổ về bằng chứng xâm phạm của máy bay Nga với không phận Thổ nếu quốc gia này đòi hỏi các đồng minh NATO phải sát cánh với mình. Thổ gần như sẽ phải đối mặt một mình với cuộc khủng hoảng và hẳn người Thổ đang cầu mong hai phi công Su24 thực sự còn sống để họ có thể kiểm soát căng thẳng với Nga. Nếu hành vi khai hỏa của chiếc F16 là một toan tính đã được lập trình thì lần này Thổ Nhĩ Kỳ đã gặp sai lầm khá nặng.

Điều mà cả thế giới đang quan tâm là Putin sẽ làm gì? Sự tổn thất quan hệ ngoại giao và thương mại song phương là điều khó tránh khỏi dù nó sẽ mang đến thiệt hại cho cả hai phía. Trong bối cảnh bị châu Âu cấm vận, Nga cũng không vui vẻ gì khi các đối tác thương mại ít ỏi của mình bị xói mòn. Putin sẽ không tấn công đáp trả Thổ về mặt quân sự. Điều đó sẽ dẫn tới một cuộc đối đầu trực tiếp với NATO và chắc chắn sẽ kết thúc bằng một cuộc chiến tranh thế giới mới. Nga cũng có thể đẩy mạnh cuộc chiến tuyên truyền về hành vi bắt tay IS của Thổ Nhĩ Kỳ, điều sẽ tác động rất mạnh tới người Pháp hay người Đức, những nước vừa bị đánh bom hay tìm thấy các thiết bị nổ đe dọa mạng sống người dân. Ngoài ra nước Nga sẽ tận dụng triệt để cơ hội này để đẩy lò lửa Trung Đông vào một cao trào mới nhằm cứu vãn giá dầu vẫn chưa có dấu hiệu về hồi phục. Nga chắc chắn sẽ tăng mạnh cỗ máy quân sự của mình tại Syria. Các oanh tạc cơ Nga giờ đây sẽ ưu tiên chăm sóc cho các đoàn xe chở dầu của IS đến biên giới Thổ Nhĩ Kỳ một cách triệt để. Lực lượng đối lập Syria gốc Thổ - người Turkmen tại vùng biên giới giáp Thổ Nhĩ Kỳ cũng sẽ là mục tiêu chính của Nga trong những ngày sắp tới. Không quân Nga hoạt động tại biên giới giáp Thổ chắc chắn sẽ có các máy bay tiêm kích bay kèm oanh tạc cơ, điều sẽ khiến Thổ bị đặt bên miệng hố chiến tranh. Nga cũng có thể triển khai các thiết bị phòng không mặt đất S300 và S400 để kiểm soát vùng trời tại biên giới Syria - Thổ Nhĩ Kỳ. Tầm bắn của các thiết bị phòng không tiên tiến này lên tới 300 - 400 km. Kịch bản tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng, là Nga sẽ tìm cách bẫy máy bay F16 của Thổ Nhĩ Kỳ ra vùng giáp giới và bắn hạ chúng bằng máy bay tiêm kích Su30 SM hoặc các phương tiện phòng không mặt đất, điều sẽ không dẫn đến chiến tranh Nga - NATO nhưng sẽ đẩy căng thẳng toàn cầu lên một tầm cao mới. Và giá dầu, chắc chắn sẽ tăng.

Các nước châu Âu, gần đây nhất đã gia hạn lệnh cấm vận Nga tới giữa năm 2016. Vũ khí của châu Âu đe dọa Nga hầu như không còn gì trong 6 tháng tới. Trong khi đó, Putin lại có nhiều lựa chọn cho mình để thoát khỏi vũng lầy. Hai sức mạnh chính của nước Nga, là nguồn dầu và vũ khí. Không có gì ngạc nhiên nếu tổng thống Vladimir Putin tiếp tục dùng vũ khí để cứu lấy giá dầu. Cuộc phiêu lưu mới của Putin ở Trung Đông, rồi sẽ đi đến đâu trong bối cảnh thế giới ngày càng bất ổn?

Update nhận xét về tình hình:  Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Thổ ... Khi tham gia cuộc chiến tai Syria mỗi bên đều có toan tính riêng. Các nhân tố mới liên tục phát sinh và đôi khi vượt quá tầm kiểm soát của mọi phía. Hiện nay thì có vẻ Putin đang tạm thời lấn lướt ở Syria, nhưng nếu vì thế kết luận lợi thế thuộc về Nga thì quá vội vàng. Trừ khi chiến tranh lan tràn khắp Trung Đông, sang cả Arap Saudi, Iran, jordan... Thì tương quan cung cầu và giá dầu thế giới mới thay đổi đột biến. Nga chiếm lợi thế tại Syria đơn giản vì đã có lực lượng mặt đất có tổ chức tốt của lính chính phủ Syria chống lưng, cộng thêm lực lượng chính quy từ Iran và Herbolah yểm hộ. Chứ ngót vài chục chiếc máy bay và đôi ba giàn phòng không mặt đất liệu có là bao trước hỏa lực Nato để nói tới chuyện giành ưu thế chiến trường. Điều quan trọng nhất là ở đây này: Kinh tế Nga đang tăng trưởng âm, năm thứ hai liên tiếp. Chỉ có Nga, Ucraince, Syria, Lybia và Iraq rơi vào tình trạng này. Các nước kia đều đang có nội chiến, còn mỗi Nga. Nga hung hăng, nhung từng trái bom, từng đồng quân nhu Nga đang tiêu ở Syria đều ăn vào quỹ dự trữ liên bang, tức là của để giành. Quỹ này sẽ sớm hết thôi nếu tình hình không có gì thay đổi lớn. Dù Nga đang có lợi thế tại Syria, nhưng từ kinh nghiệm Liên Xô trước đây ở Apghanixtan, Nga sẽ không bao giờ bình định được quốc gia này, và điều quan trọng là, Nga làm gì có tiền để đánh lâu dài hàng chục năm như thời liên xô cũ. Đó là lý do anh Lãng gọi cuộc chiến tại Syria là một cuộc phiêu lưu mới của Putin, chưa ai nhìn thấy ngày kết thúc. Thật ra thì Putin đang đặt cược vào hội nghị các nước OPEC nhóm họp trong ít ngày tới, bằng việc khoe cơ bắp ở Syria để làm suy giảm ảnh hưởng của Mỹ với các nước Trung Đông, khiến OPEC ra một quyết định có lợi cho nguồn cung dầu lửa (hạn chế sản lượng chẳng hạn) để đẩy giá tăng lên. Đây là thứ Nga khao khát nhất. Nhìn bản đồ thì Nga có thể doạ được Jordan, vì nếu Nga tiến hành các chiến dịch quân sự sát ván tại biên giới Jordan, IS sẽ chạy sang quốc gia này và gây bất ổn, một liệu pháp xuất khẩu khủng hoảng smile emoticon Tuy nhiên, nước chi phối thời cuộc ở đây là Arap Saudi, một nước luôn kín tiếng và nước có tiếng nói quyết định sau cùng lại là Mỹ. Chi phí sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ năm 2014 vào khoảng 60usđ/ thùng. Các tiến bộ công nghệ vẫn đang được ứng dụng nhanh và giá thành khai thác dầu đá phiến dự báo giảm xuống khoảng 12usd/thùng, và trong trường hợp này cuộc phiêu lưu của Putin sẽ nhanh kết thúc.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Một đất nước đang bước dài vào tương lai

Một đất nước đang bước dài vào tương lai
(Xin được mượn ảnh minh họa của bác Nguyễn Đăng Hưng)
Đây là cái chúng ta không có, dù Việt Nam mở cửa trước Myanmar gần 20 năm. Nó làm anh Lãng nhớ lại cái bài toán nhà bát giác. Bước đầu tiên thì rất nhanh, sau đó chứ chậm dần, thoải dần, bị các đối tác phía trước bỏ xa và bị các đối tác phía sau vượt mặt.
Người dân Myanmar mặt bằng dân trí không cao bằng Việt Nam, hiểu biết về văn hóa của người Việt bình quân cao hơn họ. Nhưng hãy xem dân khí của người Myanmar qua những bức ảnh khi thực sự được quyền chọn lựa người lãnh đạo cho họ. Khí thế như rồng, đất nước này sẽ còn tiến xa.

Thein Sein, người hùng lặng lẽ, ông đã thúc đẩy lịch sử Myanmar tiến nhanh vài thập niên:
Và người phụ nữ nhỏ bé này, từng đứng thẳng mắt nhìn vào hàng lính vũ trang chĩa súng vào mình, từng bị cầm tù và quản thúc tại gia 15 năm, chỉ kém 5 năm là bằng thời gian Nelson Mandela ngồi tù, là biểu tượng tự do của Myanmar.

 Nhân đây anh bàn thêm một chút về chuyện độc tài. Anh từng đọc bài phát biểu của thượng tướng Lưu Á Châu, một tay elite trong giới quân sự Trung Quốc. Tay này có một nhận xét xác đáng, đại loại:Nền văn minh Mỹ ưu việt vì dù có đặt một thằng ngu lên vị trí đứng đầu, nó vẫn có các cơ chế để kiểm soát khả năng gây hại của thằng ngu ấy, và thay thế nó khi tới giới hạn chịu đựng. Trong khi đó, một quốc gia tập quyền có thể may mắn có những người lãnh đạo sáng suốt trong 20, thậm chí 30 năm. Nhưng sớm muộn gì cũng sẽ xuất hiện một thằng ngu, hoặc sẽ phạm phải sai lầm không thể sửa chữa.

Câu chuyện này giờ rất có ý nghĩa ở Việt Nam. Nhiều bạn giờ vẫn còn giấc mơ Việt Nam xuất hiện một Pak Chun hee, đó là điều không thể. Một hệ thống đã hỏng, dù một người sáng suốt vì lý do nào đó may mắn lọt được vào, thì cũng sẽ bị chính các đồng chí của mình loại bỏ ngay nếu anh ta dám chèo lỗi nhịp. Một cái tàu toàn người đang ăn hút, nếu bạn làm khác đi, ảnh hưởng đến quyền ăn hút của người cạnh mình, đương nhiên bạn sẽ bị những người khác túm lấy và liệng xuống biển.
Giải pháp duy nhất cho Việt Nam, đúng hơn là lối thoát, có lẽ chính là cách Myanmar đang đi. Phe quân sự sẽ vẫn còn ảnh hưởng lâu dài, khi có 1/4 số ghế quốc hội và nắm quyền phủ quyết hiến pháp. Nhưng đất nước ấy sẽ văn minh từ từ và chí ít, phe quân sự cũng không còn lo phải trả giá vì những câu chuyện quá khứ. Đảng cộng sản Việt nam, có lẽ thực sự cần phải tham khảo đất nước đã từng đi sau mình rất xa trong tiến trình hội nhập thế giới này. Khi tận thế đến, khó có thể an lành cho con cháu những người cố kìm kẹp lịch sử một quốc gia. Tại sao không chọn cách đóng vai trò tích cực đối với tiến trình lịch sử. Một sự hạ cánh từ từ, chuyển biến êm đẹp và các vị có thể giữ được cho mình và con cái tất cả những gì đang có?
Người Myanmar phía trước còn nhiều chông gai. Sẽ có những thế lực cầu cho Miến Điện loạn, mà không phải chỉ cầu. Ví dụ người li khai gốc Hoa đánh nhau chí chết với quân chính phủ Miến được viện trợ trực tiếp từ chính quyền địa phương Trung Quốc bên kia biên giới. Năm 2014 lính chính quy Miến Điện uất ức nhiều lần ném bom sang cả đất Trung Quốc khiến nước này mang quân áp sát biên giới. Nhưng với nỗ lực cải cách của Thanswe và Thein sein, dân Miến Điện đặt niềm tin rất cao vào chính phủ, họ xiết chặt tay và phong trào li khai buộc phải lùi bước dù được hậu thuẫn. Với cái nền tảng sử dụng Anh ngữ tốt hơn Việt Nam (Miến là thuộc địa của Anh), sau vài năm nữa, bức tranh quốc gia này sẽ hoàn toàn khác. Dân trí thúc đẩy xã hội, nhưng một thể chế tốt thì lại quay lại thúc đẩy dân trí nhanh hơn nhiều lần. Ví dụ Miến điện, giờ đây là ví dụ nguy hiểm cho chính chế độ cai trị của Trung Quốc, và tất nhiên, cả Việt Nam.
Từng có nhiều nhận xét rằng cái chính quyền Trung Quốc sợ nhất ở Việt Nam hiện nay lại chính là việc Việt Nam cải cách thể chế. Điều đó có thể tạo tác động khiến Trung Quốc nội loạn từ bên trong và thậm chí chia năm sẻ bảy và sụp đổ. Nhận xét này, có lẽ cũng không xa sự thật là mấy.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Tản mạn về phẩm chất người Việt

Có một vài ý kiến của một số bạn về phẩm chất của người Việt Nam, nói đúng hơn là tố chất người Việt. Có vẻ ý kiến của những bạn này, là quy lỗi sự tồi tệ của xã hội ngày nay cho tố chất của người Việt. Và vì thế đưa ra kết luận mà chế độ hiện nay sẽ cấp huân chương: Dân tồi nên chế độ suy đồi thế là đúng rồi, kêu ca gì, cứ lo lầm lũi đi cày và đóng thuế tiếp đi smile emoticon Dù rằng có nhiều bài phân tích đã được mổ xẻ ở trang facebook này, nhưng xem ra tranh luận với các bạn Dư luận viên hoặc những người có quan điểm quá bi quan chắc chẳng đi đến đâu. Chúng ta hãy nói chuyện với nhau bằng con số:
Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, hiện có hơn 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở 103 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đông nhất là cộng đồng tại Mỹ, khoảng trên dưới 2 tr người. 
Người Việt bắt đầu lưu lạc trên thế giới chủ yếu ở hai thời điểm: 1954 có một đợt di cư (số lượng nhỏ) sang Pháp và một số nước khác. Đợt di cư nhiều nhất là sau năm 1975, phần lớn đích đến là Mỹ. Thời gian người Việt cắm rễ ở nước ngoài do đó cũng mới khoảng trên dưới 50 năm, đủ sinh ra 2 - 3 thế hệ ở nước sở tại.
So với quá trình di cư của người Hoa và nhiều dân tộc khác, người Việt trên thế giới là một cộng đồng khá non trẻ, thời gian xây đắp cuộc sống và tích lũy của họ ở quê hương mới chưa nhiều.
Vậy họ đã làm được những gì? Dù trong danh sách tỷ phú Forbes xuất hiện một số người Việt, chứng tỏ khả năng nổi trội của họ trong top những người giàu có nhất thế giới, hoặc có những người đã đạt thành tựu cao về cá nhân trong khoa học, y tế, giáo dục, nhưng những ví dụ đó chỉ mang tính đơn lẻ. Có lẽ thứ thuyết phục nhất là những gì cả cộng đồng đã gửi về để giúp đỡ đất nước.
Có 4,5 tr người Việt đang sinh sống ở nước ngoài
Từ 1991 - 2015, có tổng số 90 tỷ USD kiều hối được gửi về Việt Nam.
Số lượng kiều hối chuyển về liên tục tăng theo các năm. Năm 2014, số kiều hối chuyển về đạt 12 tỷ USD. Con số này dự kiến đạt khoảng 13 - 14 tỷ USD trong năm 2015.
Và 4,5 tr người Việt đó, vẫn phải làm việc, phấn đấu và tích lũy, lo ăn học cho con cái mình ở quê hương mới. Nếu ước tính họ gửi hàng năm khoảng 20% tiền thu nhập về trợ giúp thân nhân trong nước, thì quy mô nền kinh tế mà 4,5 tr người Việt đang sống ở nước ngoài này đang tạo ra mỗi năm có thể ước đạt 60 tỷ USD một năm.
Ta làm một so sánh nhỏ: 90 triệu người Việt trong nước đang tạo ra 188 tỷ USD GDP (năm 2014)
4,5 tr người Việt ở nước ngoài đang tạo ra 60 tỷ USD (năm 2014)
Vậy người Việt tồi hay tốt? Khi được sống ở những điều kiện giúp giải phóng con người, họ đang tạo ra được những giá trị gì?
P/S để tránh gây sốc về con số, xin bổ sung dữ liệu là GDP tính theo sức mua tương đương PPP năm 2014 của Việt Nam ước đạt 509 tỷ USD.
Tuy nhiên, mức ước đoán 20% thu nhập tích lũy kiều bào gửi về cũng là mức ước tính rất cao. Theo logic, người Việt định cư ở nước ngoài phải lo nhà cửa, cuộc sống, lo ăn học cho con cái và tích lũy dự phòng, do đó mức tiền gửi về hàng năm tương ứng khoảng 10% thu nhập của họ có lẽ là chính xác hơn. Và nếu vậy, thì quy mô GDP (danh nghĩa) do 4,5 tr người Việt đang tạo ra mỗi năm sẽ lên tới 120 tỷ USD. Do cộng đồng này sống tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, không thể có đối chiếu để tính được quy mô này theo nguyên tắc PPP. Ngoài ra, theo số liệu của Bộ lao động thương binh xã hội, trong 4,5 tr người Việt ở nước ngoài, có khoảng 500 nghìn đến 825 nghìn người thuộc diện xuất khẩu lao động, năm 2014 họ gửi về nước tổng cộng 1,6 tỷ USD. Như vậy đóng góp chủ yếu trong kiều hối là những người Việt định cư ở nước ngoài.
Để so sánh khách quan, xin nêu thêm con số về tiền kiều hối của Philippin: Philippin có 10 tr người lao động ở nước ngoài, năm 2014 gửi về nước 22 tỷ USD. Nếu đối chiếu với số lượng 4,5 tr người Việt gửi về 12 tỷ USD thì người Việt đang gửi nhiều hơn. Tuy nhiên phải lưu ý một sự khác biệt rất lớn giữa cộng đồng người Việt và cộng đồng Philipin: Cộng đồng người Việt phần lớn là người lưu vong, và định cư ở quốc gia mới, họ chỉ gửi về giúp thân nhân một phần nhỏ thu nhập. Cộng đồng Phillipin phần lớn là người xuất khẩu lao động, ra nước ngoài kiếm tiền chứ không định cư và gửi hầu hết thu nhập tích lũy được về cho thân nhân trong nước. Do đó tỷ lệ GDP tạo ra của người Philipin ở nước ngoài thấp xa so với người Việt.
Trên thực tế, nếu phản ánh đúng bản chất, thu nhập của cộng đồng người Việt chỉ là một phần trong giá trị sản phẩm và dịch vụ mà họ tạo ra (W). Trong khi đó, công thức tính GDP=W+R+i+Pr+Ti+De, trong đó W chính là tiền lương, tức là tiền lương chỉ là một phần nhỏ trong giá trị hàng hóa dịch vụ do một cộng đồng tạo ra. Phần thu nhập người Việt ở nước ngoài được trả chủ yếu là lương, theo logic thông thường, các nhà tư bản chỉ trả cho người làm thuê một mức lương tương ứng với một phần nhỏ giá trị mà họ tạo ra. Giả định người lao động được trả công bằng 20% giá trị mà họ làm ra, nếu vậy, với tổng mức thu nhập 60 tỷ, người Việt ở nước ngoài đã làm ra được một lượng sản phẩm có giá trị khoảng 300 tỷ USD. Tuy nhiên nếu đưa con số này vào so sánh thì sẽ không khách quan, vì như thế là cộng gộp cả phần đóng góp về kỹ năng quản lý và lao động trí óc của các nhà tư bản ngoại quốc vào phần giá trị người Việt ở nước ngoài tạo ra. Do đó, ở đây chỉ xét riêng và so sánh giữa tổng giá trị người Việt trong nước làm ra (trong đó bao gồm cả lương người lao động được trả) và số tiền người Việt ở nước noài kiếm được mỗi năm. Kết quả rất rõ ràng, trong những điều kiện tốt, thể chế và môi trường tốt, người Việt tạo ra được lượng giá trị vượt trội gấp nhiều chục lần những người Việt ở trong nước.
Có nhiều ý kiến phản ánh rằng kiều hối có một bộ phận quay vòng, là tiền trong nước chuyển lậu ra ngoài rồi quay lại qua đường kiều hối. Ở đây có hai điểm cần làm rõ. Chính xác là có tiền chuyển lậu ra nước ngoài. Theo nghiên cứu của tiến sỹ Nguyễn Quang Việt, nó đạt tới 9 tỷ usd vào năm 2013. Tuy nhiên, đây chính là điểm thứ hai, số tiền này chuyển lậu chính là thanh toán cho dòng hàng nhập lậu từ Trung Quốc. Con số nhập lậu này đến nay đã được khẳng định. Cuối năm 2014, chênh lệch số liệu giữa thống kê của Tổng cục thống kê TQ và Việt Nam vênh tới 20 tỷ usd hàng TQ xuất vào Việt Nam. Trong số này sẽ có sai số về cách tính xuất xứ, ngoài ra, cũng sẽ có dòng tài nguyên thô xuất lậu từ Việt Nam sang TQ, ước khoảng 4 tỷ usd, nhung phần còn lại chênh hàng chục tỷ Usd chính là hàng lậu. Đương nhiên nó sẽ được thanh toán bằng chuyển tiền lậu. Số tiền này chuyển ra trả cho các nhà sản xuất TQ đương nhiên sẽ không quay lại và chẳng dính gì đến kiều hối. Một bộ phận tiền chuyển lậu ra nước ngoài quan trọng khác là tiền tham nhũng. Số tiền này đương nhiên sẽ được cất ở ngân hàng và các tài sản ở nước ngoài chứ không quay lại Việt Nam. Cũng có nhiều phân tích cho rằng trong dòng kiều hối có một bộ phận là tiền bất hợp pháp được rửa ở Việt Nam. Ý kiến này khá võ đoán hoặc nếu có thì tỷ trọng không quá lớn vì các nước như Mỹ sẽ theo dõi rất sát các khoản chuyển tiền khi nó xuất hiện trên hệ thống ngân hàng, mà toàn bộ kiều hối thì đều được chuyển qua con đường ngân hàng chính thức. (Khoảng 57% kiều hối chuyển về là từ Mỹ, nguồn theo nghiên cứu của Viện quản lý trung ương vn) Người chuyển tiền sẽ ngay phải lập tức giải trình về nguồn gốc số tiền khi chuyển qua ngân hàng nếu nó bất thường. Một số ý kiến khác cho rằng dòng kiều hối tăng do người Việt huy động tiền chuyển về nước gửi ngân hàng để hưởng chênh lệch lãi suất giữa tiền Việt và usd, đây là ý kiến thiếu chuyên môn vì rủi do tỷ giá giữa tiền Việt và Usd là rất lớn, việc chuyển tiền nhằm mục đích này, nếu có, chỉ là các trường hợp hãn hữu với số tiền nhỏ lẻ. Kết luận rút ra ở đây, là dòng tiền kiều hối miễn phí hàng năm đang là cái phao cứu sinh cho nền kinh tế Việt Nam, để bù trừ vào tiền trả cho dòng hàng nhập lậu từ TQ và tiền tham nhũng chuyển ra nước ngoài. Nếu không, Việt nam đã mất năng lực chi trả từ lâu. Nó cũng phản ánh một thực tế, TQ đang bòn rút người Việt ở một mức độ kinh khủng hơn thống kê chính thức. Và nếu thương mại hai nước bị đình trệ, thì sẽ có vô số nhà máy TQ sẽ sập tiệm vì dòng thặng dư thương mại họ đang được hưởng từ Việt Nam có thể lên tới 40 tỷ usd. Trung Quốc sẽ thiệt hại lớn hơn nhiều Việt Nam nếu giao thương hai nước vì lý do nào đó mà bị kiểm soát.
Nhân có ý kiến nói về doanh nghiệp sân sau của quan chức, anh phân tích rõ hơn một chút. Các doanh nghiệp sân sau được hưởng lợi nhờ thông tin chính sách, nhờ hậu thuẫn quyền lực từ quan chức. Vốn để hoạt động của nó không bao giờ là tiền từ quan chức bỏ vào (nếu có cũng rất ít) mà được móc ra từ hệ thống ngân hàng (cũng do hậu thuẫn quyền lực mà vay được dễ dàng). Nhiệm vụ cua doanh nghiệp sân sau là kiếm tiền chia cho quan chức, số tiền này trừ đi số phè phỡn ở Việt Nam thì phần lớn sẽ được chuyển lậu cất ở nước ngoài, chúng không bao giờ quay trở lại và là những nguồn lực bị mất hút.
Và thông điệp cuối cùng: Đây chỉ là bài viết mang tính tham khảo cho vui, các thông số phần nhiều đều là ước đoán (trên cơ sở những số liệu xác thực). Nếu có bạn nào cảm thấy tự ái rằng 90 tr người Việt sao thua kém thế nghĩa là hiểu nhầm hoàn toàn thông điệp của bài viết. Ở đây chỉ là một phân tích nhỏ để chỉ ra thực tế người Việt Nam có thể làm được những gì, tạo ra được những gì nếu được sống ở những môi trường tốt. Và do đó 90 triệu người Việt Nam, nếu môi trường trong nước được cải thiện, họ sẽ có khả năng đưa đất nước này đi đến tận đâu. Vậy thôi.
Anh không muốn tự huyễn hoặc hay ru ngủ mình. Người Việt trong nước giờ rất tệ hại, nếu không đã chẳng thể để chế độ bóc lột tệ lậu lâu đến như thế này, phải nhìn thẳng vào đó để hiểu ta đang ở đâu. Nhưng mọi phân tích đều dẫn đến một kết luận, họ hoàn toàn có thể làm rất tốt nếu có được một thể chế cai trị tốt hơn, dựa trên pháp luật, kỷ cương và nhân văn. Họ hoàn toàn có thể lột xác giống những người đồng chủng tộc đang được sống trong những môi trường tốt. Chẳng có miếng bánh nào miễn phí, do đó, mỗi cá nhân phải tự thay đổi chính mình và đấu tranh cho sự thay đổi chung của xã hội.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Tương lai nào cho Việt Nam với chính thể hiện nay?

Ngày 05/11/2015, Chủ tịch kiêm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc sang thăm Việt nam, chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cao nhất Trung Quốc sau 10 năm tính từ chuyến thăm trước đó của người tiền nhiệm ông ta là ông Hồ Cẩm Đào. Là một nước có truyền thống bá quyền hàng nghìn năm lịch sử, Trung Quốc luôn chú ý đến bộ mặt và từng cử chỉ ngoại giao, họ coi việc các lãnh đạo láng giềng đến thăm hàng năm là một điều đương nhiên, giống như chư hầu vào chầu Thiên Tử, còn việc Thiên Tử đến thăm chư hầu thì rất hãn hữu và luôn được coi là một chuyến tuần thú để úy lạo chư hầu.
Thế giới đã bước sang thế kỷ 21, nhưng lối nghĩ bá quyền của Trung Quốc không thay đổi. Vì thế mà trong 10 năm từ 2005 - 2015, có rất nhiều chuyến thăm viếng của các đời Tổng Bí Thư Việt Nam tới Trung Quốc, nhưng số lần ngược lại thì đến giờ mới là chuyến đầu tiên. Bằng việc tước quyền đối đẳng trong quan hệ ngoại giao, Việt Nam tự biến thành một dạng chư hầu kéo dài dù lịch sử nhân loại đã sang trang. Khoan hãy nói về vấn đề quốc thể, hãy xét về mặt lợi ích sống còn quốc gia xem điều đó cuối cùng sẽ dẫn đất nước đi đến đâu?
Việc ông Tập đến Việt Nam ở thời điểm này không phải là điều ngẫu nhiên. Quan hệ song phương Việt Nam - Trung Quốc đã xuống thấp nhất kể từ giữa năm 2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan HaiYan 981 vào hoạt động sâu trong thềm lục địa Việt Nam. Tiếp đó, việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo với diện tích hàng nghìn hecta tại khu vực Trường Sa càng khiến lợi ích quốc gia của Việt Nam bị đặt vào sự đe dọa sống còn. Nền kinh tế suy thoái kéo dài suốt từ năm 2007 đến năm 2014 khiến áp lực dân chúng đối với chính quyền ngày một gay gắt. Để tìm lối thoát, Đảng Cộng Sản Việt Nam quay sang Mỹ và phương Tây. Điều may mắn là thời điểm này trùng khít với chiến lược xoay trục của nước Mỹ sang Á Châu. Nhiều yếu tố hội tụ đã dẫn tới chuyến thăm lịch sử của ông Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu ĐCS Việt Nam sang Hoa Kỳ vào 06/07/2015. Dù thể chế chính trị rất khác nhau, Tổng thống Mỹ Obama vẫn dành cho ông Trọng sự đón tiếp với nghi thức nguyên thủ quốc gia. Các cuộc hội đàm song phương sau đó đã dẫn tới sự tăng tốc trong quan hệ hai bên, theo đó Mỹ thừa nhận sự tồn tại của thể chế hiện hành ở Việt Nam, đặc biệt, hiệp định TPP sau đó được cả hai phía coi là một nền tảng để xây đắp quan hệ hợp tác mới trong thế kỷ 21.
Ngày 05/10/2015, sau nhiều vòng đàm phán rất khó khăn, với sự thúc đẩy rất lớn từ Mỹ và Nhật Bản, những nền kinh tế dẫn đầu trong Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương, TPP được công bố đã kết thúc các vòng đàm phán, sau 5 ngày căng thẳng đàm phán xuyên đêm. Đây là một khoảng khắc có tính lịch sử với nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Ngược lại, nó gây ra một cú sốc lớn đối với Trung Quốc, nước bị gạt ra bên lề và hiểu bản chất của TPP đối với mình chính là cái gì. Báo chí Trung Quốc gần như ngay lập tức định danh TPP chính là một dạng Nato trong kinh tế để đối đầu với Trung Quốc. Trên thực tế, họ không hề sai vì TPP chính là hàng rào mà Mỹ - Nhật lập ra để từng bước hạn chế dòng thương mại của Trung Quốc tràn vào thị trường của họ. Bằng các ràng buộc về quan thuế, bằng các rào cản về nguồn gốc xuất xứ, TPP là bước đầu tiên để Mỹ chặn thặng dư thương mại của Trung Quốc đối với mình. Nó đồng thời nắn dòng thương mại ấy sang các nước thành viên. Những nước có cơ cấu xuất khẩu tương đồng nhiều mặt hàng với Trung Quốc như Việt Nam được lợi lớn nhất, vì tự nhiên được hưởng khoảng trống thị trường mà Trung Quốc bị gạt ra. Khác với WTO chỉ là một bộ quy tắc thương mại, TPP là một bàn cỗ được dọn sẵn cho nhiều nước thành viên. Nhiều phân tích kinh tế dự báo sức tăng trưởng rất lớn của xuất khẩu Việt nam, và trước hết là sự gia tăng mạnh của dòng vốn đầu tư để tạo ra các nhà máy mới, giúp Việt Nam chuẩn bị sẵn nguồn hàng xuất khẩu cho thị trường mà TPP mang lại. Với nhiều người Việt Nam, TPP còn đem lại cơ hội xóa bỏ một nỗi ám ảnh đã kéo dài nhiều chục năm khi hứa hẹn các mặt hàng thực phẩm chất lượng cao và giá rẻ từ Mỹ, Úc sẽ tràn vào thay thế các hàng thực phẩm độc hại nhập từ Trung Quốc, chấm dứt cơn ác mộng về nạn diệt chủng từ từ đã kéo dài hàng thập kỷ. Sức hấp dẫn của TPP lớn đến mức các lãnh đạo cộng sản Việt Nam dường như vượt qua được sự e dè về các điều khoản liên quan đến công đoàn độc lập, thứ có thể làm suy yếu quyền lực cai trị của họ, để thúc đẩy nỗ lực gia nhập TPP. Việc Việt Nam có mặt trong danh sách 12 nước sáng lập viên của TPP, có thể giúp thay đổi bộ mặt đất nước trong khoảng 1 thập kỷ tới.
Trung Quốc coi TPP là một điềm không lành. Giữa năm 2015, Trung Quốc ba lần tiến hành phá giá đồng tiền khi dòng thương mại xuất khẩu của họ suy giảm kỷ lục. Trong cùng thời gian, thị trường chứng khoán của họ lao dốc mất 1/3 giá trị và dòng tiền chạy ra nước ngoài bình quân mỗi tháng xấp xỉ 50 tỷ USD. Trong khoảng 4 thập kỷ liên tiếp, thặng dư xuất khẩu là điều làm nên sự thần kỳ trong tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Nhưng có vẻ thời kỳ huy hoàng đã qua, khi họ phải đối đầu với cuộc chiến thương mại âm thầm mà Mỹ dẫn dắt. Số liệu thống kê hai tháng sau đó cho thấy việc phá giá tiền của Trung Quốc không đem lại hiệu quả. Họ buộc phải chấp nhận một thực trạng mới rằng Trung Quốc không còn được chào đón trên thế giới sau những gì họ đã thể hiện quá đà sau nhiều năm “thao quang dưỡng hối”. Đây chính là kết quả của sự sai lầm chiến lược, khi họ lựa chọn lối bành trướng bằng sức mạnh thay vì việc đóng góp cho thế giới bằng quyền lực mềm và ảnh hưởng quốc gia.
Cách bành trướng hung hăng của Trung Quốc sẽ không thay đổi, vì đó là bản chất của họ. Không thể xóa được cái nhìn nghi kỵ của các đối tác trên thế giới đối với mình, để có lại các điều kiện thuận lợi giống như trong quá khứ, do đó, Tập Cận Bình tìm cách phá băng nhằm thiết lập một luật chơi thương mại mới, đối trọng với TPP và lấy Trung Quốc làm trung tâm. Chiến lược một vành đai, một con đường, nhằm thiết lập một dòng thương mại xuyên Á Âu, nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự thâm nhập của hàng hóa Trung Quốc ngày càng sâu hơn vào vành đai mà Trung Quốc vạch ra. Chuyến đi phá băng đầu tiên của Tập là tới châu Âu. Tập mang theo 30 tỷ USD hợp đồng hợp tác tới nước Anh sau thất bại thảm hại của chuyến thăm Mỹ. Người Anh hoan hỷ đón tiếp vì họ không chê tiền. Ngày 05/11/2015 Tập Cận Bình tới Việt Nam, lộ trình kế tiếp chính là Singapore, hai quốc gia sáng lập của Hiệp định TPP vừa ký kết, cũng đồng thời là những mắt xích rất quan trọng cho chiến lược một vành đai, một con đường mà Trung Quốc đang tìm cách thiết lập. Mục tiêu của chuyến đi khá rõ. Trung Quốc sẽ rất hài lòng nếu có thể làm chậm tiến trình phê duyệt TPP tại các quốc gia này, hoặc nếu khiến Việt Nam rút khỏi TPP và tích cực tham gia vào chiến lược mới của Trung Quốc thì càng tốt. Tập có thành công hay không? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời ở thời điểm này. Giàn lãnh đạo của Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi, các phe cánh đấu đá rất ác liệt. Sự can thiệp và hậu thuẫn của Tập ở thời điểm này có thể giúp thay đổi cán cân với những phe nhóm có truyền thống thân Tàu. Đó cũng chính là lý do, hầu hết người Việt Nam nhìn nhận chuyến thăm của Tập một cách nghi kỵ sâu sắc.
Tập Cận Bình đã mang gì đến Việt Nam? Trong thông cáo gần đây nhất, Trung Quốc tuyên bố viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ nhân dân tệ trong 5 năm (159 tr USD chia đều 5 năm), bổ sung khoản vay hạ tầng cho tuyến đường sắt đầy tai tiếng Cát Linh thêm 250 tr USD. Ngoài ra, là việc đồng ý chuyển mục đích sử dụng khoản vay 300 tr USD để xây dựng tuyến đường cao tốc Móng Cái - Vân Đồn. Những khoản tài chính quá nhỏ bé nếu đối chiếu với tổng số vốn ODA mà Nhật Bản đã viện trợ cho Việt Nam, tính đến 2015 đã là 20 tỷ USD. Có lẽ Tập Cận Bình cũng nhận ra, việc đổ thêm tiền vào Việt Nam sẽ không giúp ông ta xoay chuyển được thế cục ở đây, khi hầu như 90 tr dân Việt nam coi Trung Quốc là mối đe dọa sống còn, và mọi chế độ cai trị, dù tiến bộ hay phản động, chỉ có thể trì hoãn chứ không thể thay đổi được lối tư duy ấy. Hơn nữa, chiến lược thôn tính ở biển Đông của Trung Quốc chắc chắn không thay đổi. Trong chuyến viếng thăm London, Tập Cận Bình công khai tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như đường lưỡi bò ở biển Đông là những quyền lợi của Trung Quốc được truyền lại từ “cổ sử”. Việc người Tàu với khả năng làm hàng giả trứ danh nay vẽ ra một thứ cổ sử dởm mới thì không ai nấy làm lạ, nhưng tuyên bố này rõ ràng đặt lợi ích chiến lược của Trung Quốc và Việt nam vào thế đối đầu và không thể thay đổi.
Mục đích chính của Tập Cận Bình, do đó không phải là hòa bình hay nhượng bộ. Thông điệp duy nhất Tập mang theo là “Đại cục”. Thứ đại cục đang dẫn tới việc mất dần mòn lãnh thổ của Việt nam. Thứ đại cục khiến kinh tế Việt Nam ngày một lệ thuộc sâu vào Tàu. Thứ đại cục khiến người Việt nam chết dần chết mòn vì thực phẩm độc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Biết chắc không ru ngủ được Việt Nam, Tập chuyển luận điệu sang tính tương đồng về chế độ, với lời phát ngôn vận mệnh Việt Nam và vận mệnh Trung Quốc gắn chặt với nhau. Luận điệu của Tập, có lẽ vẫn còn sức nặng với nhiều thành phần trong chế độ Việt nam, vốn muốn duy trì sự tồn tại của chế độ càng lâu càng tốt, với các đặc quyền từ quyền lực độc tài và lợi ích kinh tế vơ vét được càng nhiều càng tốt. Giống như hồi hội nghị Thành Đô ngày 3/09/1990, Trung Quốc đã thành công lôi kéo các lãnh đạo hàng đầu Việt Nam, bắt chặt tay nhau để duy trì chế độ. Lịch sử lại lặp lại vào ngày 5/11/2015, trong một bối cảnh khác và một hoàn cảnh khác.
Nhằm in đậm dấu ấn chuyến thăm của mình tới Việt Nam, Tập cố gắng để nó thành nhiều ngoại lệ. Trung Quốc đơn phương đòi cho Tập quyền phát biểu tại Quốc Hội Việt Nam, điều mà chưa có bất cứ nguyên thủ nào được làm khi đến thăm Việt Nam. Đòi hỏi của Tập được đáp ứng một cách miễn cưỡng. Dù sao, trong con mắt của các nhà quan sát quốc tế, động thái này gây được dấu ấn vì rõ ràng như thế vai trò của Trung Quốc vẫn còn rất mạnh ở Việt Nam. Có lẽ Tập muốn các đối tác phương Tây, có hệ thống chính trị khác biệt Việt Nam, ghi nhận những dấu ấn này nhằm làm tăng sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác mới trong quá trình hội nhập. Theo dõi truyền thông quốc tế, có vẻ ít nhiều mong muốn của Tập đã có thành công.
Tập Cận Bình đang muốn nắn dòng lịch sử Việt nam. Và chính người Việt nam hiện nay, cần nỗ lực để tác động đến lịch sử của chính mình.
Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, hiện nay rõ ràng là một quan hệ bất bình đẳng. Nền hòa bình giả hiệu mà Việt Nam đang có với Trung Quốc, thực ra đang dẫn tới cái gì? Về mặt bản chất, Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng lãnh thổ. Lần chạm súng gần đây nhất là năm 1988, khi Trung Quốc nổ súng chiếm 6 đảo và đá tại Trường Sa. Sau hội nghị Thành Đô tháng 9/1990, dù vừa bị xâm lược, chế độ Việt Nam bắt tay với chế độ Trung Quốc để duy trì quyền cai trị trong làn sóng sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu, liệu như vậy Việt Nam đã có hòa bình? Hoàn toàn không, trong suốt 25 năm qua kể từ hội nghị Thành Đô, súng vẫn nổ lẻ tẻ trên biển Đông và mức độ khủng bố tàu ngư dân Việt Nam trên các ngư trường trong lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì ngày một leo thang. Số tàu chấp pháp và các tàu quân sự của Trung quốc ngày một nhiều thêm, đi kèm với mức độ ngày càng khốc liệt hơn trong việc đánh cướp, tống tiền và húc chìm tàu ngư dân Việt Nam. Năm 2015, báo chí đã nói đến việc ngư dân Lý Sơn bỏ biển lên bờ, họ đã tới giới hạn của sự chịu đựng khi cứ phải âm thầm đối mặt với cướp bóc và chết chóc. Các bước tiến xâm lăng của Trung Quốc trong suốt thời gian gọi là hòa bình ấy cũng chưa bao giờ dừng lại. Năm 2007, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, bao trọn các quần đảo chiếm đóng tại Biển Đông như một đơn vị hành chính chính thức. Năm 2013, Trung Quốc tập trung nỗ lực vào việc chiếm đóng bãi đá ngầm Scarborough do Philipin kiểm soát. Năm 2014, sau khi khởi công đóng mới thêm hai tàu sân bay và hạ thủy một loạt chiến hạm mới, được khuyến khích bởi hành động xâm lược Crimea của Nga, Trung Quốc vươn thêm một bước dài xuống phía Nam. Cùng lúc đưa giàn khoan HaiYan 981 vào hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung quốc tiến hành mở một đại công trường xây 7 đảo nhân tạo tại các đảo đá chiếm đóng bất hợp pháp tại Trường Sa, mục tiêu không che dấu nhằm thiết lập những căn cứ liên hoàn Không - Hải quân và hậu cần khổng lồ giữa biển, làm bàn đạp vững chắc để kiểm soát hoàn toàn vùng biển phía Nam. Các bước tiến của Trung Quốc cho đến nay, hầu như đều không bị chặn lại.
Trong lúc lãnh thổ đang bị xâm lăng, dựa vào cái khái niệm về “đại cục”, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc ngày một được thắt chặt theo hướng lệ thuộc ngày càng lớn vào Trung Quốc. Nhập siêu trong thương mại với Trung Quốc hiện nay hầu như nuốt trọn mọi khoản thặng dư Việt Nam có được từ các nước phương Tây. Nói cách khác, thay vì có một nền kinh tế tự chủ do thứ hòa bình “đại cục” mà Trung Quốc ban phát, kinh tế Việt Nam trở thành một hệ thống phái sinh, gia công và xuất hàng thay cho Trung Quốc. Đó là quan hệ thương mại chính thức, thống kê được. Trong khi đó, một cuộc chiến thương mại mang tính tàn sát khác được Trung Quốc âm thầm tiến hành. Do hệ thống độc tài đã làm suy đồi đến tận gốc rễ bộ máy công quyền, hầu như lực lượng hải quan, biên phòng, kiểm soát thị trường của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa trước dòng thác hàng lậu Trung Quốc. Hàng lậu Trung Quốc nhập vào Việt Nam bằng mọi ngóc ngách trên tuyến biên giới kéo dài hàng nghìn cây số, đủ loại, đủ mặt hàng, không phải chịu bất cứ một khoản thuế nào ngoài tiền hối lộ, và nó bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam. Con số thống kê lộ ra vào cuối năm 2014, khi người ta đối chiếu thấy một khoản chênh lệch tới 20 tỷ USD hàng xuất TQ vào VN, giữa số liệu của tổng cục thống kê TQ và VN. Có nhiều cách giải thích vụng về từ Việt Nam cho khoản chênh lệch khổng lồ này, đại loại do khác biệt trong thống kê xuất xứ. Sự chênh lệch do thống kê xuất xứ có thể có, nhưng không quá một vài tỷ USD, toàn bộ phần chênh khổng lồ còn lại chính là hàng lậu. Trong số đó, đương nhiên là nhiều tỷ USD hàng thực phẩm độc hại, thứ đang tàn sát và làm thoái hóa giống nòi người Việt Nam một cách từ từ.
Cũng với chiêu bài đại cục, trong 25 năm qua Trung Quốc tìm cách thò tay can thiệp vào các chính sách chiến lược của Việt Nam. Hồi ký của nhiều viên chức về hưu cho thấy sự tác động lớn của Trung Quốc vào Việt Nam, nhằm trì hoãn việc ký kết BTA với Mỹ hồi năm 2000 (Hiệp định thương mại Việt Mỹ hiện đem lại kim ngạch song phương tới 35 tỷ USD năm 2014, trong đó Việt nam thặng dư thương mại với Mỹ tới 22 tỷ USD). Trung Quốc cũng can thiệp để chính phía Việt Nam làm chậm lộ trình gia nhập WTO của mình. Điều bi hài là Việt nam đã gia nhập WTO chậm hơn Campuchia tới 2 năm, khi nước láng giềng đã là thành viên chính thức của WTO từ 13/04/2004. Rất nhiều cơ hội lớn khác của Việt Nam đã bị bỏ lỡ, để hội nhập sâu hơn với thế giới và tận dụng triệt để hơn các cơ hội phát triển với sự can thiệp ngầm về chính sách của Trung Quốc.
Đến giờ có lẽ mọi chuyện đã được làm sáng tỏ, thực chất trong 25 năm qua, Việt Nam và Trung Quốc có thực sự có hòa bình? Rõ ràng là không, nhưng bằng thứ hòa bình giả hiệu trên khái niệm gọi là “Đại Cục”, Trung Quốc một mặt ngày một vươn dài tay chiếm đoạt lãnh thổ Việt nam, mặt khác lũng đoạn và bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam và tìm cách kìm hãm Việt nam càng nhiều càng tốt.
Cái gì đã khiến Trung Quốc thành công với nền hòa bình giả dối ấy? Đó chính là cái mồi “đại cục”, mà lực lượng đớp mồi, chính là thể chế cai trị hiện nay ở Việt Nam, những người bắt tay với Trung Quốc từ hội nghị Thành Đô 03/09/1990 chỉ để bảo tồn quyền cai trị và chế độ càng lâu càng tốt.
(Anh nợ các bạn nốt phần còn lại trong khuya muộn hôm nay hoặc ngày mai. Anh quyết định biến phần còn lại thành một phân tích kinh tế chi tiết để chỉ rõ tương quan so sánh về sức mạnh kinh tế mà chế độ đã dẫn Việt Nam đi trong 25 năm qua so với các nước trong khu vực và so sánh với chính Trung Quốc, để thấy rằng chúng ta đã thực sự làm được gì và đang đi về đâu, nếu cứ tiếp tục theo cách thức này)
Chúng ta quay trở lại câu hỏi ban đầu: “Tương lai nào cho Việt Nam với chế độ cai trị hiện nay?”
Một lập luận quen thuộc từ lâu của Ban Tuyên Giáo Trung Ương và của Bộ Chính Trị Việt Nam với dân chúng mỗi khi nhắc đến việc Trung Quốc đang xâm lược Việt Nam: “Đồng bào cứ yên tâm, mọi việc đã có Đảng và nhà nước lo”. Vậy Đảng và nhà nước, đã và đang dẫn chúng ta đi đến đâu trong suốt 25 năm qua?
Hãy bắt đầu bằng số liệu kinh tế năm 1980. Do World Bank không công bố dữ kiện kinh tế Việt Nam các năm 1976 - 1979, anh Lãng lấy mốc 1980 làm mốc xuất phát quá trình điều hành kinh tế của Đảng Cộng Sản ở Việt Nam kể từ khi thiết lập được quyền cai trị trên khắp cả nước sau ngày 30/04/1975. Năm 1980, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 226 USD. Con số của Trung Quốc ở thời điểm đó là 309 USD/người. Tỷ lệ GDP/người của Trung Quốc so với Việt Nam năm 1980 là 1,37 lần. Cũng so sánh về con số đối chiếu với 5 nước Asean thuộc nhóm trên (Singapore, Malaysia, Indonesia, Thailand, Philippines) và Hàn Quốc, ta có bảng dữ liệu đối chiếu sau trong một giai đoạn 31 năm, từ 1980 - 2011:

Biểu đồ 1. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.
Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống 3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6 trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.
Tuy nhiên, việc phân tích chi tiết con số sẽ chỉ ra một thực trạng bi đát hơn nhiều, khi so sánh tỷ trọng tương đối về khoảng cách GDP/người giữa các nước với Việt Nam trong chu kỳ 31 năm nói trên:
Năm 1980, GDP/người của Singapore gấp Việt Nam 9,25 lần, của Hàn Quốc gấp 3,29 lần; của Malaysia gấp 3,44 lần, Philippines gấp 1,45 lần; Indonesia gấp 1,14 lần; Thailand gấp 1,35 lần.
Năm 2011, sau 31 năm, khoảng cách GDP/người của các nước với Việt Nam đều giãn cách rất rộng: Singapore gấp Việt Nam 35,86 lần; Hàn Quốc gấp 16,32 lần; Malaysia gấp 7,34 lần; Philippines gấp 1,71 lần; Indonesia gấp 2,56 lần; Thailand gấp 3,93 lần.
Như vậy, khoảng cách giữa Việt Nam và các nước kề sát không những không được thu hẹp sau 31 năm mà ngược lại, ngày càng giãn rộng. Điều nguy hiểm hơn, nếu so sánh với Trung Quốc, quốc gia đang xâm lược Việt Nam, thì khoảng cách chênh lệch ấy lại càng đáng báo động. Năm 1980 GDP/người của Trung Quốc chỉ hơn Việt Nam 1,37 lần. Tuy nhiên, năm 2014, tỷ lệ ấy đã lên tới con số 3,69 lần. Khoảng cách chênh lệch so sánh giữa Việt Nam và mối đe dọa lớn nhất của nó không những không được thu hẹp sau 34 năm, trái lại, lại mở rộng ra tới 2,7 lần.
Nếu chúng ta hiểu việc chế độ Việt Nam tìm mọi cách duy trì hòa bình với Trung Quốc, là để âm thầm xây đắp đất nước, mục tiêu cao nhất là để thay đổi tương quan lực lượng so sánh song phương, để từ đó Việt nam có thể trụ vững, thậm chí có thế mạnh được cải thiện dần để đàm phán đòi lại lãnh thổ thì rõ ràng mục tiêu này đã hoàn toàn thất bại. Nền hòa bình giả dối mà Trung Quốc ban tặng cho Việt Nam dưới chiêu bài đại cục, chỉ đem lại lợi ích duy nhất cho chế độ cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, khi nó tiếp tục duy trì được quyền cai trị dài hơn hơn, trong bối cảnh khoảng cách giữa Việt Nam và tất cả các nước xung quanh thì ngày một giãn rộng.
Liệu Việt nam có thể bắt kịp các nước lân cận và Trung Quốc một cách tương đối hay không? Nhìn vào biểu đồ số 1 bên trên, có thể thấy Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp Philippin, Thái Lan, Indonesia chứ chưa nói gì tới Malaysia, Hàn Quốc hay Singapore. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, anh tham khảo số liệu của IMF trong 10 năm, từ 2002 - 2011 để vẽ lại mức tăng trưởng GDP/người cho mỗi quốc gia:

Biểu đồ 2. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).
Và cuối cùng, dựa vào chương trình mô hình toán để vẽ ra bản đồ dự báo tăng trưởng GDP/người của 7 quốc gia trên trong 50 năm tới:

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 2.
Kết luận rút ra, là Việt nam không thể bắt kịp bất cứ một quốc gia lân cận nào trong khu vực với những gì mà chế độ cai trị hiện hành tại Việt nam đang thực hiện. Bên cạnh đó, thể chế của tất cả các nước trên đều tiến bộ hơn Việt Nam, sức đổi mới của họ do đó cũng lớn hơn, và với những gì đang có, sức mạnh so sánh giữa Việt Nam với các nước nêu trên sẽ ngày càng giảm.
Anh Lãng không đưa Trung Quốc vào dự báo, vì bản thân quốc gia này có rất nhiều yếu tố chưa xác định trong tương lai. Tuy nhiên, rõ ràng là khoảng cách giữa Việt nam với Trung Quốc cũng sẽ ngày một cách rộng, nếu sẽ vẫn là những gì chế độ cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang làm.
Có thể kết luận rằng trong 25 năm qua, nếu hiểu là chế độ Việt Nam câu giờ với Trung Quốc để tìm kiếm hòa bình, để phát triển nhằm thay đổi tương quan lực lượng với phía xâm lược, thì họ đã hoàn toàn thất bại. Cá nhân anh thì cho rằng, mục tiêu chính của họ, hoặc ít nhất là của một phần lớn thành phần trong chế độ, chỉ nhằm duy trì quyền cai trị càng lâu càng tốt, càng dài càng tốt. Có lẽ đó mới chính là bản chất vấn đề.
Tiếp tục đi trên con đường này, sức mạnh so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày một chênh lệch, chúng ta sẽ dựa vào cái gì để bảo vệ những gì còn lại, chứ chưa nói đến việc lấy lại những thứ đã mất?
Đây chính là thứ mà Tập Cận Bình muốn tiếp tục duy trì ở Việt nam khi mang ngọn cờ “Đại cục” sang vào ngày 05/11/2015. Rõ ràng, phía trước Việt Nam chỉ có vực thẳm.
Đến đây tự các bạn có thể trả lời câu hỏi: Tương lai nào cho Việt Nam với thể chế chính trị hiện nay?
Vậy đâu là giải pháp?
Tính từ ngày 03/09/1990 khi lãnh đạo Trung Quốc thành công mang miếng mồi “Đại cục” ra dụ các lãnh đạo Việt Nam, người Việt đã có 25 năm lầm lụi lao động đóng thuế để góp tiền nuôi chế độ và xây đắp đất nước.
Cũng trong thời kỳ này, Việt Nam đã nhận được những gì để phát triển? Có lẽ anh sẽ bỏ qua số liệu về nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI, là thứ mà tất cả các nước trong khu vực đều lấy làm trọng tâm thu hút. Nó mang tính thị trường và phụ thuộc vào đặc điểm mỗi nước để thu hút được nhiều hay ít. Nhưng những nguồn lực mang tính viện trợ mà Việt Nam nhận được, nó ở mức nào?
Theo số liệu thống kê, trong vòng 20 năm qua, tính đến tháng 08/2015, Việt Nam nhận được tổng cộng 80 tỷ USD vốn vay viện trợ ODA, trong đó riêng Nhật Bản chiếm 1/4, đạt tới 20 tỷ USD. Đây là con số rất lớn nếu tính trên GDP hiện hữu của Việt Nam. Dù chia đều cho 20 năm thì nó cũng là những nguồn lực có thể tạo cú hích đột phá cho tăng trưởng. Nhưng kết quả mà Việt nam đã có là cái gì? Thực trạng ở phần phân tích kinh tế bên trên đã chỉ rất rõ.
Một nguồn lực còn lớn hơn nhiều, và có thể gây sửng sốt cho những người không có chuyên môn, chính là thống kê về số tiền kiều hối mà người Việt chuyển từ nước ngoài về trong những năm qua. Tính từ năm 1991 đến cuối năm 2014, tổng số tiền kiều hối chuyển về Việt Nam thậm chí vượt quá số tiền tài trợ ODA những năm qua, và đạt tới con số xấp xỉ 90 tỷ USD. Đây là một nguồn lực khổng lồ, chảy vào Việt nam vô điều kiện, không ràng buộc, không lãi suất.
Những nguồn lực trên đáng lý ra phải tạo ra tốc độ tăng trưởng trên hai con số cho Việt Nam, vì nó quá lớn nếu so sánh với GDP các năm. Tuy nhiên, với sức ì của chế độ cai trị của Đảng Cộng Sản, với cái chiêu bài “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, các cải cách về thể chế và pháp lý đều diễn ra chậm chạp và nửa vời. Đến tận năm 2015, khối kinh ế quốc doanh vẫn chiếm một tỷ trọng cực lớn về số vốn và số tài sản xã hội, và đóng góp thấp nhất cho tăng trưởng kinh tế. Cũng chính nhóm này, tập trung nhiều nhất các đại án tham nhũng, mà chỉ riêng vụ Vinashin đã khiến thất thoát tới 4 tỷ USD (chiếm 5% GDP của Việt Nam ở thời điểm phát sinh). Các nguồn lực khổng lồ đổ vào Việt nam, bị phung phí và tiêu biến trong một thể chế đầy sức cản và tham nhũng. Cuối cùng hiệu năng của chúng đối với nền kinh tế rất thấp, và Việt nam ngày một tụt hậu so với các nước xung quanh. Sự chi phối chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam càng khiến vấn đề ngày một trầm trọng.
Trong những bối cảnh rất khó khăn, thì chính TPP là lối thoát cho Việt Nam, nhưng đó chỉ là cơ hội, còn để biến cơ hội thành hiện thực, thể chế Việt Nam buộc phải thay đổi.
Trong thiên Lãng luận: “Lỗi hệ thống và sự lạm dụng quyền lực”
anh đã phân tích rõ về sự tha hóa của quyền lực độc tài, chính là căn nguyên cho mọi tệ nạn và mọi rào cản ở Việt nam. Tham nhũng do tha hóa quyền lực độc tài mà ngày một trầm trọng và không thể kiểm soát, bất công xã hội cũng theo đó mà ra và kèm theo đó là sự suy đồi. Cũng chính đó là thứ đang dẫn tới các rào cản cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp làm việc với các cơ quan công quyền hiện nay đều không thể thiếu phong bì và tiền đút lót. Nạn nhũng nhiễu ngày một trầm trọng và diễn ra thậm chí cả ở những cấp cơ bản nhất, đáng ra phải đại diện cho trật tự xã hội và sự công chính của pháp luật mà tiêu biểu là lực lượng cảnh sát giao thông, những người tiếp xúc nhiều nhất với người dân hàng ngày. Toàn bộ đạo đức xã hội do đó gần như sụp đổ vì người dân còn rất ít niềm tin vào công lý, và các thành phần quan chức thì vơ vét được càng nhiều càng tốt. Sự thất thoát trong đầu tư công thì là một vấn nạn cực kỳ kinh khủng. Hầu hết các công trình xây dựng hạ tầng ở Việt Nam trong 20 năm qua, cầu cống, đường xá đều dính phải vấn nạn rút ruột, bớt xén và nâng giá. Ngân sách và đầu tư công ngày càng lớn qua mỗi năm, số tiền vay nợ và bội chi ngân sách cũng ngày càng tăng, nhưng hiệu suất đầu tư thì ngày càng giảm. Cơ hội tăng trưởng của Việt nam cũng tiêu biến dưới ma trận của nạn tham nhũng, nạn nhũng nhiễu của các cơ quan hành pháp.
Có quá nhiều thứ cần phải làm ở đất nước này để thay đổi vấn đề, có quá nhiều thứ cần đập đi và xây lại, có quá nhiều thứ cần xóa bỏ. Anh Lãng sẽ không đi chi tiết quá sâu vào các biện pháp mang tính kỹ trị cụ thể vì nó sẽ không thể được bàn hết trong phạm vi một vài chục bài phân tích. Nạn lạm dụng quyền lực trong nhiều năm ở một hệ thống lỗi đã làm băng hoại đến tận gốc rễ hệ thống chính quyền. Hiệu năng hoạt động của mọi cơ quan hành pháp đều méo mó và đóng vai trò lực cản thay vì thúc đẩy xã hội. Vì vậy ở đây anh chỉ nói tới giải pháp cốt lõi: Chỉ có xóa bỏ và kiểm soát nạn lạm dụng quyền lực, hay nói đúng hơn là quyền lực độc tài ở Việt nam, dân tộc này mới có lối thoát.
Chế độ độc tài quân sự Myanma từng là một ví dụ tiêu biểu cho sự độc tài và là điểm nhấn cho sự tăm tối ở khu vực Đông Nam Á. Lý Quang Diệu từng viết trong hồi ký của mình rằng đây là đất nước không có ngày mai và nói chuyện với các lãnh đạo Myanma hệt như nói chuyện với người chết, vì họ chẳng thèm nghe gì ai. Cũng chế độ này đã bỏ tù bà Aung San Suu Kyi trong nhiều thập kỷ, cộng thêm hàng nghìn tù nhân chính trị. Nhưng cũng chính Myanma đã có một cú lột xác ngoạn mục, khi tự thay đổi chính mình từ bên trong. Từ một thể chế độc tài, Myanma thả toàn bộ các tù nhân chính trị và chấp nhận một chế độ bầu cử tự do. Dù rằng hiến pháp do họ soạn ra vẫn giành một số ghế đáng kể trong nghị viện cho phe quân sự mà không cần bầu chọn (1/4 số ghế và phe quân đội nắm quyền phủ quyết mọi thay đổi hiến pháp), tuy nhiên, quốc gia này đã có một sự thay đổi ngoạn mục. Tự nhiên chế độ cai trị Myanma nhận thấy họ không còn nhu cầu bỏ tù đối lập và họ có lại sự ủng hộ của người dân. Hóa ra, nhu cầu bắt tù chính trị chỉ có khi một chế độ không còn chính nghĩa. Hai ngày nữa thôi, ngày 08/11/2015 sẽ là cuộc bầu cử tự do lịch sử ở Myanma sau 25 năm cai trị độc tài. Đó chính là ngọn đuốc soi đường cho chính người Việt nam và cho chính chế độ đang cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các vị hãy mở to mắt để nhìn, đất nước ấy đã chuyển biến mà không hề có hỗn loạn. Nó đang có vô số hy vọng mới và nó sẽ còn tiến xa. Chính Myanma là một cái tát vào luận điệu của Đảng Cộng Sản, cho rằng việc chuyển sang đa nguyên và bầu cử tự do sẽ dẫn tới hỗn loạn hoặc mất kiểm soát.
Giải pháp do đó, chính là cái cách mà Myanma đã và đang thực hiện. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng có thể học theo, họ có thể giành cho mình một tỷ lệ đáng kể thành viên trong quốc hội được chỉ định mà không cần bỏ phiếu, họ cũng có thể làm giống phe quân sự Myanma, giữ lấy quyền phủ quyết hiến pháp. Nhưng phần còn lại, có thể là 70%, phải thực sự là những đại diện dân cử qua tranh cử tự do. Đảng cũng có thể giữ cho mình vị trí chủ tịch nước như người đứng đầu quốc gia, nhưng các vị trí điều hành, đặc biệt là thủ tướng, phải là một vị trí được bầu chọn qua tranh cử tự do. Sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản sẽ thông qua số đại biểu mà họ nắm trong quốc hội. Nó sẽ là một giai đoạn chuyển tiếp có thể kéo dài hàng chục năm cho đến khi toàn bộ quốc hội được dân bầu. Nhưng có lẽ, đó là cách duy nhất để có một lộ trình chuyển biến hòa bình khiến quyền lực độc tài được kiểm soát dần dần cho đến khi xóa bỏ.
Đi kèm với sự kiểm soát quyền lực độc tài, hiệu năng của bộ máy nhà nước cần được nâng cao. Tất cả các cơ quan Đảng các cấp từ trung ương tới địa phương đang chiếm một lượng biên chế và ngân sách khổng lồ cần phải được xóa bỏ trong một lộ trình 5 năm, bắt đầu từ cấp xã. Việc đó sẽ giúp tinh giản biên chế công chức và cũng là cơ sở để nâng lương cho những người trong bộ máy hành chính các cấp. Giảm được số nhân sự bên Đảng, lương công chức có thể tăng gấp đôi mà không phải tăng quỹ lương. Đó cũng sẽ là bước đầu tiên để kiểm soát nạn tham nhũng trong các cơ quan công quyền.
Việc điều chỉnh các chính sách, việc chớp lấy các cơ hội như TPP, sẽ là những câu chuyện thuận lý thành chương nếu những rào cản lớn nhất đã được loại bỏ. 
Tựu trung lại, mỗi người Việt nam, ngay từ lúc này phải gây sức ép với chính thể hiện nay bằng mọi cách, bằng mọi nỗ lực, để không đạt gì cao xa giống như các mô hình tiến bộ tại châu Âu, mà chỉ cần theo đúng cái cách Myanma đang tiến hành với một lộ trình hướng tới một chính thể tự do. Ngược lại, chính Đảng Cộng Sản Việt Nam, các vị cũng cần nhìn nhận rõ, cách Myanma đang đi là lối thoát tốt đẹp nhất cho tất cả, vì lịch sử không thể chấp nhận lối cai trị độc tài mà các vị đã áp đặt lên đầu người Việt Nam 25 năm qua tính từ hội nghị Thành Đô tháng 09/1990. Tiếp tục, đất nước sẽ ngày một tụt hậu và phía trước là vực thẳm. Thay đổi, các vị vẫn có thể giữ được quyền lực của mình thêm một số năm, vẫn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Việt nam, và vai trò đó, sẽ là tích cực thay vì một bộ mặt gây phẫn nộ như hiện nay. Không đổ máu, không sụp đổ, không hỗn loạn mà chỉ là một bước tiến dài vào tương lai của đất nước, của dân tộc và cũng là của chính các vị.
Anh chấm dứt thiên Lãng luận này ở đây, vì nó đã quá dài. Những vấn đề còn dang dở sẽ được bàn tiếp ở những bài phân tích khác.
(Bài viết này có sử dụng dữ liệu được công bố công khai của World bank, IMF, một số thống kê của một số nhà nghiên cứu độc lập như Bùi Kiến Thành, Tiến sỹ Trần Đăng Hồng và một số dữ liệu khác từ internet. Xin cảm ơn các tác giả)

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Mr Xi Jinping, xin chào đón ông nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam, các ông đang làm gì để gìn giữ đất nước?


Ngày 16/03/2014, sau cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự giám sát của lính Nga, Crimea được sát nhập vào Liên Bang Nga theo một quyết định của Tổng Thống Vladimir Putin. Dù người Nga lập luận rằng quyết định này dựa trên cơ sở 96% người tham gia bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý tại Crimea đã đồng ý sát nhập vào Nga, nhưng luật pháp quốc tế có những nguyên tắc căn bản khác, vì lãnh thổ Crimea trước ngày 16/03/2014 thuộc về Ucraine theo mọi hiệp định quốc tế mà chính nước Nga là một bên ký kết.
 
Câu chuyện về Crimea đến giờ vẫn chưa thôi chấm dứt, bằng sức mạnh của mình, hiện tại nó đang nằm trọn vẹn trong sự khống chế của nước Nga, và người Ucraine chưa bao giờ thôi nói về nó. Một bộ phận khác của thế giới cũng chưa thôi nói về Crimea, nhưng nhiều xu thế cho thấy các nước xung quanh Nga đang phải dần chấp nhận sự thật: Crimea sẽ không thể trở về Ucraine, hoặc sẽ không thể trở về trong ngắn hạn.
 
Ở Crimea, khi các đơn vị lính Nga bắt đầu thâm nhập một cách chuyên nghiệp và mau lẹ, người Ucraine từ chối chiến đấu. Họ co cụm trong các căn cứ, phó mặc cho tình hình diễn ra và khi bị tước vũ khí, họ không bắn lại đối phương dù chỉ vài phát đạn. Tương quan lực lượng song phương đương nhiên là một vấn đề khiến Ucraine lùi bước. Có lẽ trong thâm tâm, họ coi Crimea là cái giá phải trả để Ucraine thoát Nga và gia nhập được EU. Tuy nhiên, có Crimea một cách dễ dàng, người Nga không dừng lại. Ucraine ngay sau đó có thêm lò lửa Donbass. Cuộc nội chiến với sự can thiệp của lính Nga đến giờ đã kéo dài ngót 2 năm, hủy diệt hạ tầng miền Đông Ucraine và ngày càng đẩy đất nước này vào hỗn loạn. Sự hèn nhát của người Ucraine ở Crimea để giữ lấy hòa bình với Nga đã chẳng mang lại cái gọi là hòa bình cho đất nước này. Đến nay, họ vừa mất lãnh thổ và nhận lấy cả chiến tranh.
 
Dù thế giới phần lớn đều ủng hộ Ucraine, và hành động xâm lược của Putin cũng đã khiến nước Nga phải trả giá nặng nề. Nền kinh tế bị cô lập, các biện pháp kinh tài tổng hợp của Mỹ và Phương Tây khiến nước Nga lao dốc, tiền tệ mất giá nặng, dự trữ quốc gia sụt giảm và GDP thì tăng trưởng với tốc độ âm. Hiện nay thì Putin vẫn đang rất hung hăng, nhưng thực tế nước Nga đang phải tiêu bằng của để dành, mà với tốc độ hiện nay thì số đó sẽ cạn kiệt vào năm 2016. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa Ucraine sẽ có lại được Crimea, hay khói lửa ở Donbass sẽ nguội đi trong vài năm tới.
 
Dù Ucraine luôn hô hào thế giới phải giúp đỡ họ lấy lại Crimea, nhưng hãy xem quan niệm đích thực của những người ngoài cuộc về vấn đề này thế nào? Tổng thống Belarus Lukashenko, đã có một tuyên bố với báo chí Ucraine khiến đất nước này câm lặng:
 
“Nếu nó (Crimea) là lãnh thổ của các bạn (Ucraine), bạn cần phải chiến đấu vì nó. Nếu như bạn đã không chiến đấu vì nó, thì nó không phải là đất của các bạn nữa”
 
Sự thật quá đơn giản và tàn nhẫn, nhưng cũng rất logic và phản ánh bản chất vấn đề. Câu chuyện Ucraine và Crimea cho thấy, khi nhường nhịn để tìm kiếm hòa bình trước một kẻ xâm lược hung hăng, bạn sẽ chẳng thể có nổi hòa bình và còn mất nhiều hơn thế.
 
Ngày hôm nay, 05/11/2015, ông Tập Cận Bình tới Việt Nam, chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cao nhất Trung Quốc tới nước láng giềng nằm kề sát sau 10 năm, dù trong thời gian 10 năm đó, số lần thăm viếng của các đời Tổng Bí Thư Việt Nam sang Trung Quốc là không đếm hết. Điều đó trước hết nói lên tính quỵ lụy trong quan hệ ngoại giao quốc tế, với một cái gì đó không sòng phẳng. Ngoại giao song phương phải là đối đẳng, nếu anh đã không muốn thăm tôi, thì có lẽ tôi cũng nên để những đồng sự khác của mình đến gặp anh thay vì trực tiếp tới nhà anh. Tuy nhiên, trong suốt 10 năm qua, Việt Nam tự hành xử để chà đạp lên tư cách của mình trong quan hệ song phương. Để đổi lấy thái độ ngày càng lấn lướt của Trung Quốc ở Biển Đông. Chiến hạm của Trung Quốc ngày một vươn xa hơn về phía Nam, và kinh tế thì ngày càng lệ thuộc chặt vào Tàu với những chính sách tổng hợp mà Trung Nam Hải áp dụng. Chỉ đến khi sức ép âm ỉ trong xã hội Việt Nam khiến chính quyền ngồi trên đống lửa và buộc phải quay sang phương Tây để tìm kiếm sự tương trợ. Sau chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, tự nhiên, người ta thấy thông tin Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam. Vậy ông ta đến là để làm gì?
 
Tập Cận Bình sẽ trả lại Hoàng Sa chăng? Hay ông ta sẽ trả nốt cả Trường Sa, những thứ mà lính Trung Quốc đã tấn công Việt Nam để đoạt lấy? Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam, theo nguyên tắc ngoại giao, các ông đang đón tiếp Tập Cận Bình và cần phải làm thế, nhưng có một câu hỏi mà các ông buộc phải trả lời: Chính các ông, những người đã để mất lãnh thổ khi mình đang cai trị, các ông đang làm gì để gìn giữ đất nước?
 
Trong nhiều năm nay, Việt Nam luôn phát ngôn theo luận điệu của người Tàu: “Phải gìn giữ cái gọi là đại cục trong quan hệ song phương. Đại cục nghe rất hay, nhưng đó là thứ đại cục nào? Thứ đại cục đã và đang dẫn đến việc mất dần lãnh thổ, thứ đại cục dẫn đến kinh tế ngày một lệ thuộc và thứ đại cục dẫn tới người dân ngày một chết dần với thực phẩm tẩm độc với đủ loại hóa chất từ bên kia biên giới? Ngày hôm nay, Tập Cận Bình đến Việt Nam, tất nhiên sẽ vẫn là chiêu bài “Đại Cục” và chẳng có gì khác, nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam, các ông cần cho những người đang phải ngày ngày còng lưng đóng thuế nuôi chính các ông biết, các ông sẽ gìn giữ đất nước bằng cách thức nào?
 
Hoàng Sa và một phần Trường Sa giờ đã nằm trọn trong tay Trung Quốc. Tàu cá ngư dân Việt Nam bị khủng bố chật vật trên biển, những nơi các ông luôn tuyên bố thuộc lãnh thổ Việt Nam và cam đoan người dân có quyền đến đó đánh cá. Các ông từ chối chiến đấu để giành lại lãnh thổ đã mất, vì các ông yếu hơn. Rất có lý. Nhưng việc các ông dẫn dắt đất nước ngày một lệ thuộc nặng nề vào kẻ xâm lược mình, để người Trung Quốc tung hoành trên lãnh thổ Việt Nam, tự do buôn bán, tự do phá hoại kinh tế như chốn không người, vậy các ông đang gìn giữ đất nước theo cách nào vậy? Các ông yếu hơn, rất tốt, vì cả nước nghèo, rất đúng. Nhưng chính xác nên nhìn nhận là chỉ người dân nghèo còn quan chức và con cháu các ông thì đều rất giàu, và sự thực đó đều là nhờ vào tài năng cai trị của chính các ông. Tuy nhiên, khi thực trạng đang yếu thì cũng đành chấp nhận, nhưng việc chính các ông tước quyền của người Việt nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, điều mà người Philipin đang làm và làm rất tốt, trước hành vi xâm lăng của Trung Quốc, vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam, các ông đang gìn giữ đất nước kiểu gì vậy? Các ông từ chối chiến đấu cả về quân sự và pháp lý cho lãnh thổ đất nước, và các ông bắt bớ nốt những người Việt nam thể hiện chính kiến phản đối sự xâm lăng của Trung quốc vì cái đại cục mà Trung quốc tuyên truyền, vậy các ông đang gìn giữ đất nước kiểu gì vậy?
 
Hôm nay ông Tập Cận Bình sẽ được các ông đón mừng chu đáo. Ông Tập cũng sẽ phát biểu trước 500 vị đại diện dân cử của quốc hội Việt Nam. Ông ta sẽ nói về “Đại Cục”, về hòa bình, trong lúc chiến hạm của ông ta ở Biển Đông thi không bao giờ dừng lại. Vậy các vị Đảng Cộng Sản Việt Nam, các vị đại diện “dân bầu”, các vị sẽ nói gì với Tập Cận Bình để gìn giữ đất nước này?
 
Các ông vẫn ngày ngày cần mẫn phản đối bằng mồm, giống người Ucraine, cho các hành vi xâm lăng của Trung Quốc. Các ông vẫn hô hào bằng mồm để quốc tế ủng hộ các ông. Nhưng các ông sẽ trả lời ra sao khi thế giới nói đến đúng câu mà ông Lukashenko đã nói với người Ucraine “Khi các bạn không làm gì để bảo vệ lãnh thổ của mình, thì đó không phải là đất của các bạn nữa”
 
Các ông, phải, chính Đảng Cộng Sản Việt Nam, với cái quyền cai trị mà chính các ông đã ghi vào Điều 4 Hiến pháp, khi từ chối mọi biện pháp đấu tranh có hiệu quả để giành lại đất nước, khi bịt miệng nốt người dân của mình để gìn giữ ngọn cờ “đại cục” cho phía xâm lăng, các ông đang gìn giữ đất nước kiểu gì vậy?

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Luận về Dân tộc và Dân quyền

Lịch sử Việt Nam, đến bây giờ khi đúc kết lại, thứ nổi bật nhất có lẽ là chiến tranh. Sống bên cạnh một đế quốc hung hăng, người Việt phải chiến đấu để gìn giữ độc lập trong nhiều thế kỷ. Tính đến ngày nay, về cơ bản dân tộc ấy thành công vì vẫn giữ cho mình được một lãnh thổ riêng, dù phải chịu ít nhiều đe dọa.
 
Xuyên suốt nhiều thế kỷ, các triều đại cai trị tại Việt Nam nối nhau khuyến khích tinh thần dân tộc của người dân, đằng sau mỗi chiến thắng chống ngoại xâm hào hùng, thường là sự quật khởi của một vương triều mới. Những triều đại hùng cường như triều Lý, triều Trần kéo dài được ngót 200 năm. Nhà hậu lê sau này kéo dài hơn, tính từ thế kỷ 15 khi Lê Lợi lên ngôi, cho đến khi triều Tây Sơn thay thế, nó kéo dài được khoảng 300 năm, dù sự tồn tại của triều đình nhiều lúc chỉ là danh nghĩa. Đằng sau mỗi cuộc chiến tranh, luôn là đổ nát và hoang tàn. Danh tướng Lý Thường Kiệt, 80 tuổi vẫn còn cầm quân, đánh đông dẹp bắc, nam chiếm đất Chiêm Thành, Bắc đánh sang tận Ung Châu, Khâm Châu nhà Tống, một đời kiệt hiệt, nhưng cũng chỉ để nhà Lý le lói được ít năm, cuối cùng sụp đổ. Đằng sau chiến thắng hiển hách, người dân Việt lao đầu ra chiến trường, lớp chết lớp thương tàn, cuối cùng cũng chỉ cung cúc lao động đóng thuế nuôi sống triều đình. Kinh tế, văn hóa và các thành tựu thời Lý cũng không mấy nổi bật với lịch sử, và cũng chẳng đóng góp gì cho văn minh nhân loại, chưa nói gì tới việc thúc đẩy lịch sử để người Việt thực sự có được ấm no. Thời Trần hiển hách đánh bại ba đợt xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, Hưng Đạo Đại Vương một đời danh tướng. Hịch tướng sỹ đến giờ vẫn là một áng hùng văn, khi đọc lên dù cách nhiều thế kỷ, dù tư tưởng đã lạc hậu so với thời đại nhưng vẫn khiến bầu máu nóng của người Việt sôi trào. Tuy nhiên, 3 cuộc chiến tranh vườn không nhà trống, giặc đánh vào tận kinh thành, người dân ly tán bỏ ruộng bỏ vườn trốn vào rừng hoang sông thẳm, cái bi kịch ấy để đổi lấy sự thống trị của nhà Trần, mà tiêu biểu có lẽ là câu phát ngôn của danh tướng Trần Khánh Dư: “Quan tướng như chim ưng, dân đen như gà vịt. Đem gà vịt mà nuôi chim ưng, phỏng có gì sai?”.
Thời cận đại, ông Hồ dẫn người Việt vào 30 năm chiến tranh, lớp chết lớp tàn, dân tộc nhợt nhạt vì mất máu. Hậu quả chiến tranh thì thảm khốc cả với bên thắng lẫn bên thua. Người Mỹ chết 58 nghìn quân và nhiều chục tỷ USD chiến phí, điều họ rút ra là hãy để bọn mọi ấy tự nói chuyện với nhau. Riêng người Việt, chết thảm khốc trên dưới 4 triệu người, cả nước tan hoang. Sau chiến tranh có trên dưới 2 tr người vượt biên lênh đênh trên biển, có bao nhiêu người bỏ mạng? 500 nghìn hay 1 tr? Chẳng ai hay ngoài sóng nước và cướp biển ở Biển Đông. Bên chiến thắng thì cũng có hàng triệu người là nạn nhân của chiến tranh, mang thương tật, mang hậu quả chất độc màu da cam trở về đời thường, lầm lũi làm việc và đóng thuế nuôi chế độ. Cái bánh vẽ độc lập - tự do - hạnh phúc chỉ là thứ treo trên đầu cho người dân ngưỡng vọng. Bước sang thế kỷ 21, người Việt vẫn vật vã với mối lo ngoại xâm, vật vã đóng thuế nuôi chính quyền với tỷ lệ Thuế/GDP cao nhất châu Á, và phúc lợi cho người dân, gần như một con số 0 tròn chĩnh.
 
Tinh thần dân tộc, là thứ bùa hộ mạng giúp giữ gìn bờ cõi quốc gia, nhưng nó cũng là thứ gông xiềng để các triều đại và các chế độ cai trị nối tiếp nhau xúi người dân ra chiến trường, gánh chịu đủ đau thương chết chóc, để cuối cùng đổi lại vẫn là một kiếp đời lầm lũi lầm than, cần mẫn đóng thuế nuôi bộ máy cai trị chính mình.
 
Đó gần như là một cái vòng luẩn quẩn, trói chặt số mệnh người Việt đến tận thế kỷ 21.
 
Cuối cùng thì điều gì là cần thiết đối với người dân? Một thứ độc lập giả dối trong lầm than, hay một kiếp người trong văn minh và tự do đích thực?
 
Đôi lúc anh Lãng tự hỏi, sau ngần ấy năm chiến tranh đau thương, sau ngần ấy thập kỷ thất vọng với cái bánh vẽ của một chính thể cai trị tham nhũng và suy đồi, nếu người Việt được bỏ phiếu lựa chọn trở thành bang thứ 53 của nước Mỹ, sẽ có bao nhiêu người say Yes? Và liệu có đến nổi 1% dân số muốn cầm súng ra chiến trường để bảo vệ thứ độc lập vốn luôn bị lợi dụng bởi những thể chế suy đồi?
 
Năm 2014, người Hồng Kong xuống đường đòi quyền bầu cử. Cái họ muốn là quyền được lựa chọn người đứng đầu theo ý họ chứ không phải là theo ý của triều đại Bắc Kinh. Vì cuối cùng bộ máy cai trị Hồng Kong sống bằng tiền thuế của người Hồng Kong chứ không phải từ ngân sách của Trung Nam Hải. Giữa cơn bão quay cuồng, nhiều học giả Trung Quốc lập luận một cách rất có lý rằng thể chế bầu chọn người đứng đầu trên một danh sách được phê duyệt bởi Bắc Kinh, là dân chủ hơn nhiều so với lối bổ nhiệm toàn quyền từ nước Anh mà người Hồng Kong trước đây phải chịu. Lập luận lừa bịp này có vẻ có lý, nếu không xét đến thực tế rằng người Hong kong đủ khôn để nhận ra, việc bổ nhiệm toàn quyền trước kia xuất phát từ một thể chế cai trị văn minh, và dù không được bầu ra viên toàn quyền ấy thì người Hong Kong vẫn có thể yên tâm rằng chính người dân nước Anh và thể chế văn minh của họ sẽ giám sát hành động của vị toàn quyền, để bảo đảm hành vi của ông ta phải tôn trọng và phục vụ lợi ích mỗi người dân mà ông ta đại diện. Còn việc lựa chọn người đứng đầu từ danh sách của Bắc Kinh, dù có là ai thì cũng chỉ là một kẻ nghe theo mệnh lệnh từ Trung Nam Hải, thứ mệnh lệnh đã từng dội bão lửa xuống đầu người dân ở Thiên An Môn, triệt hạ Pháp Luân Công và buôn bán mạng sống con người. Một lần nữa người ta phải đặt ra câu hỏi, giữa hạnh phúc và tự do với cái khái niệm về tinh thần dân tộc, con người văn minh sẽ chọn cái nào?
 
Dân tộc Việt Nam, về khả năng đứng ở đâu trong bản đồ chủng tộc. Nhìn vào thực trạng bi bét của đất nước hôm nay, nhiều ý kiến sẽ nhận định đó là một thứ dân thấp kém. Tuy nhiên, như ở nhiều phân tích, anh đã chỉ ra đây là một giống dân không phải không có những phẩm chất phi thường. Cách đây 8 năm, anh đọc được một nhận xét của một giáo sư nhân chủng học người Việt, theo nhiều nghiên cứu, cuối cùng ông ấy kết luận, người Việt tố chất không tồi, nhưng xét về thành tựu cá nhân thì thua cả người châu Phi, vì tính đến năm 2006 đã có hai đời tổng thư ký liên hợp quốc là người da đen. Khi ông Ban Ki Moon lên làm tổng thư ký liên hợp quốc, dù đó là một vị trí sắp xếp mang tính chính trị, nhưng người Hàn Quốc rất tự hào vì cuối cùng họ có đại diện đứng đầu vị trí về mặt danh nghĩa của tổ chức lớn nhất hành tinh. Năm 2015, báo chí loan tin và hình chụp ông Ban Ky Moon về thăm Hà Tây (cũ) trong một chuyến đi mang tính riêng tư, và ông đề tặng lời cảm ơn trong từ đường họ Phan, dòng dõi của vị khoa bảng lừng danh Phan Huy Chú, rằng ông cảm ơn dòng họ đã giữ gìn nhà thờ tổ, và ở vị trí người đứng đầu Liên Hợp Quốc, ông vẫn sẽ luôn tuân theo lời dạy của tổ tiên. Nếu như năm 2010, người Việt phải chia sớt vinh quang cho người Pháp, vì ông Ngô Bảo Châu lĩnh giải Field danh giá nhất trong lĩnh vực toán học khi ông mang quốc tịch Pháp Việt, sang năm 2015, người Hàn Quốc đến lượt mình phải chia sẻ bớt vinh quang cho người Việt Nam vì cú nhận họ bất thình lình của ông Ban. Hóa ra, dù trong khoa học hay trong chính trị, người Việt vẫn có thể vươn tới đỉnh cao. Nhưng ông Ban được nuôi dạy ở Hàn Quốc, còn ông Châu thì được người Pháp cưu mang kể từ lúc trưởng thành. Một hạt giống tốt cần đến một mảnh đất tốt để trưởng thành. Trên một mảnh đất xấu, nó chỉ có thể cho ra một giống người lầm lũi với thời gian.
 
Bi kịch với 90 tr dân Việt Nam, là ngoài một số ít % được chia sớt quyền lợi từ nồi cơm chế độ, phần còn lại thì lầm lũi cày bừa, nuôi gia đình và đóng thuế. Những đồng tiền mồ hôi nước mắt của họ bị phung phí trong bàn tay của một lũ bất lương, đem lại hiệu quả chẳng đáng là bao so với giá trị đáng ra phải có. Đạo đức xã hội cũng theo đó suy tàn và tương lai đất nước thì mờ mịt.
 
Năm 2015 người Việt vật vã với mối nguy về nạn ngoại xâm. Điều bi kịch với người Việt, là cái mối nguy đó là một thể chế hung tàn còn hơn nhiều lần cái gông cùm đang cai trị họ. Số phận của người Tân Cương, người Tây Tạng chìm ngập trong đau thương, ngày một bé nhỏ, ngày một bị gạt ra bên lề trên chính quê hương của họ. Đó chính là lý do người Việt ghét và khinh bỉ người Tàu. Tuy nhiên, chính cái thể chế đang đè đầu cưỡi cổ người dân Việt Nam, đang sống phè phỡn trên từng đồng thuế, từng đồng bán tài nguyên và từng đồng vay nợ nước ngoài mà tất cả người Việt đang phải gánh mới là căn nguyên của mọi vấn đề. Tại sao người Việt không thể văn minh khi cái mầm của họ không tồi, tại sao cái nền độc lập ấy không toàn vẹn và luôn bấp bênh, và tại sao cái khái niệm hạnh phúc lẫn tự do vẫn là một cái bánh vẽ xa vời?
 
Các bạn dư luận viên, các bạn dân chủ viên, và trên hết là từng người dân Việt Nam, hãy tự mình trả lời, đến bao giờ thì người Việt được hưởng một cái nền tảng tương xứng với những gì mà họ cống hiến, bằng cả máu và mồ hôi trong cuộc sống vật vã hàng ngày? Mỗi người Việt Nam sẽ còn bàng quan với cuộc sống bao lâu nữa, từng đứa trẻ sinh ra ngày hôm nay, sẽ chờ đợi điều gì ở ngày mai? Một xã hội văn minh, được cai trị bằng luật pháp với một chính thể tôn trọng con người, hay tiếp tục là một kiếp người tăm tối, lầm lũi lao động trong một xã hội mà an sinh xã hội gần với zero, luôn bấp bênh trong mối đe dọa chủ quyền và đến một lúc nào đó, với cái nhân danh về niềm tự hào dân tộc, họ lại bị xua ra chiến trường và chết cho những kẻ vẫn hàng ngày ăn hút trên thân xác họ?
 
P/S: Anh viết bài này như một lời cảm khái trước đại hội 12 năm 2015, khi mọi vị trí đều đã được an bài, và dù có là ai thì số phận người Việt vẫn kéo dài trong chuỗi ngày lầm than. Chìa khóa cho tương lai giờ nằm ở mỗi người, ít nhất, họ phải chứng minh với chính mình, với thế hệ tương lai rằng họ cần một tương lai khác, cần những người đại diện khác. Cần tận dụng từng cơ hội dù là nhỏ nhất, dù là việc bầu chọn hội đồng nhân dân hay đại biểu quốc hội, dù là việc thể hiện bức xúc tập thể với những vấn nạn quốc gia. Cái dân tộc này cần, có lẽ, chính là dũng khí để đấu tranh với chính mình, chứ không phải là thứ tinh thần dân tộc được kích động mỗi khi cần ra chiến tuyến.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Lỗi hệ thống và sự lạm dụng quyền lực.

Lỗi hệ thống và sự lạm dụng quyền lực

Câu chuyện về cái chết của em Đỗ Đăng Dư và lá đơn của một số luật sư yêu cầu điều tra sự việc gây xôn xao. Một cậu bé vị thành niên, ăn trộm số tiền hiện chưa rõ là 1,5 tr đồng hay 2 tr đồng, bị tạm giam hai tháng và gia đình chỉ còn nhìn thấy con mình khi đã hôn mê sâu. Sau vài ngày, cậu chết mà không kịp nói lời trăng trối. Sự việc gây xôn xao khi các chuyên gia pháp lý phát hiện thấy nhiều lỗi nghiêm trọng của lực lượng hành pháp. Nhìn vấn đề này dưới góc nhìn toàn cục sẽ thấy một bức tranh khác thay vì chỉ là một bất cập xã hội vốn ngày càng phổ biến. 

Khai phóng xã hội không phải là một kết cục mà là một tiến trình. Lá đơn này của các luật sư chưa có tiền lệ và thể hiện sự thức tỉnh xã hội đối với những bất cập từ quyền lực không được kiểm soát.

Bất kể câu chuyện này có kết cục ra sao, thì đây cũng là những viên đá đặt nền móng cho xã hội dân sự và sự giám sát quyền lực. Những người ký tên trong lá đơn này đáng được coi trọng. Họ đã vận dụng tốt quyền hiến định của người dân trong khuôn khổ pháp lý và hòa bình. Đây là cách đấu tranh thay đổi xã hội phù hợp với quy luật của thời đại.

Câu chuyện này cần được ủng hộ rộng khắp. Đừng nghĩ rằng đây chỉ là bi kịch của một cậu bé 17 tuổi xa lạ có lý lịch xấu. Cái chết bi thảm tương tự có thể đến với bất cứ ai, rất có thể là một người thân của bạn hoặc thậm chí chính bản thân bạn nếu quyền lực độc tài không được kiểm soát. Hôm nay công an tìm đến Đỗ Đăng Dư, xã hội có một nạn nhân của nạn lạm quyền. Ngày mai, rất có thể họ tìm đến chính bạn vì một lý do trời ơi nào đó. Quyền lực độc tài và các hệ lụy đặt mọi cá nhân trước rủi ro tiềm tàng khi bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Nếu cha mẹ cậu bé này biết ngay từ đầu việc bắt con em họ vi phạm luật pháp thì cập bé này đã không bị đánh chết. Và cả một hệ thống từ công an đến viện kiểm sát của một địa phương, những người thực thi luật pháp, liệu không có ai có đủ kiến thức tối thiểu để hiểu rằng hành vi bắt giam tủy tiện của họ có dấu hiệu vi phạm luật pháp. Bạn tin nổi không? Ở đây là quyền lực độc tài không được kiểm soát và xã hội không có những tổ chức dân sự đủ mạnh để giám sát và can thiệp ngay khi có vấn đề. Khai phóng do đó cần cho mọi đối tượng. Với người dân, họ cần ý thức được việc cần lên tiếng/tìm kiếm sự hỗ trợ từ cộng đồng khi đối mặt với những vấn đề họ thiếu hiểu biết. Với xã hội, cần sự chia sẻ quan tâm với các vấn đề chung (dù không liên quan trực tiếp đến mình) và sự hình thành những nhóm, hội độc lập hỗ trợ cộng đồng. Với những người thực thi pháp luật, họ cần được khai phóng rằng hành vi của họ đang bị giám sát và không thể áp dụng quyền lực bừa bãi mà không trả giá. Tất cả những thứ này, đều cần đến sự khai phóng. Đây cũng là lý do anh nói đến việc tìm hiểu và phổ cập các quyền hiến định về quyền con người trong hiến pháp hiện hành như một trong những giải pháp giúp khai phóng xã hội.

Câu chuyện gần như giống hệt nhau trong mọi xã hội độc tài. Quãng năm 2010, một chuyên gia công nghệ thông tin người Trung Quốc, có bằng Thạc sỹ, đang làm cho một công ty lớn với mức lương trên 3000 usd. Anh ta để tóc dài và đi chơi khuya. Không may, anh ta gặp cảnh sát và bị tóm vào đồn vì một lý do gì đó không ai biết. Hai ngày sau, người thân nhận được tin đến nhận xác người nhà. Vụ việc khiến toàn Trung Quốc bàng hoàng vì nhận ra bất cứ ai trong xã hội cũng có thể trở thành nạn nhân trong một xã hội mà quyền lực được lạm dụng vô tội vạ do thể chế độc tài và thiếu vắng các cơ chế giám sát xã hội. Ở Việt Nam hiện nay thì lực lượng hành pháp nhiều lúc cư xử không khác bọn lưu manh. Nguyên nhân vì sao? Là vì xã hội thiếu vắng hoàn toàn các cơ chế của một xã hội dân sự. Tất cả những điều này sẽ được khắc phục từ từ khi dân trí được khai phóng và dân khí được chấn hưng.

Điểm mấu chốt ở đây là quyền lực độc tài của nhà nước khiến xã hội sinh ra những vấn nạn ngày một bức bối. Tham nhũng, bất công, lạm dụng quyền lực và tha hoá xã hội chỉ là những hệ quả của độc tài quyền lực (không độc tài cũng có những vấn nạn này, nhưng mức độ nhỏ hơn rất nhiều tại các xã hội văn minh và ngày một bị kiểm soát). Người dân thường tại Mỹ, Anh, Pháp cũng chẳng mấy ai có đủ hiểu biết về luật pháp. Nhưng họ ý thức sâu sắc về quyền con người và có xã hội dân sự đủ mạnh để bảo vệ họ khi có dấu hiệu bị lạm dụng quyền lực. Do đó, chính cơ chế gây ra bất công chứ không phải hiện tượng xã hội tự nhiên sinh ra. Cách đây 15 năm, anh nói chuyện với một vụ trưởng có tài và cấp tiến của Bộ KHĐT, nguyên văn ông này nói đến giờ anh vẫn nhớ như in: "Anh không muốn nhận phong bì của các đơn vị, vì làm xấu mặt Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cái thể chế này không cho phép anh sống bằng lương và thu nhập hợp pháp như các đất nước khác". Đó là một người hiếm hoi có tâm trong bộ máy chính quyền nhưng vẫn buộc phải làm sai. Còn vô số những thành phần khác thì hoan hỷ tận dụng thể chế để làm giàu và lạm dụng quyền lực. Cũng chỉ có ở Việt Nam mới có việc coi chuyện thi vào ngành công an là một cơ hội để đổi đời. Nói chung, vấn đề của Việt Nam thuộc về system eror, lỗi hệ thống, giàn khắp từ nhiều vấn đề mà cốt lõi nằm ở quyền lực độc tài của Đảng cộng sản và nhà nước mà nó dựng lên.

Thật ra có nhiều vấn đề đằng sau câu chuyện lá đơn và anh không loại trừ có những người tham gia để mua danh và vì động cơ vụ lợi. Nhưng bất kể đằng sau đó là gì, thì đây cũng là một sự kiện thể hiện xã hội dân sự đang hình hành bất chấp bị kìm kẹp đến đâu. Đằng sau câu chuyện đòi công lý trong một xã hội bất công nhan nhản như ở Việt Nam, khi chính ông chủ tịch nước phải phát ngôn "có cả bầy sâu đang làm rầu nồi canh" (chứ không còn là một con sâu riêng lẻ). Vấn đề chính mà các ông này né tránh là tại sao và vì cái gì sâu ngày một nhiều? Có thiếu điều luật chống tham nhũng chăng? Không. Có thiếu điều luật chống lạm quyền, nhục hình chăng? Cũng không. Nhưng vấn đề lõi là thiếu cơ chế để thực thi những thứ ấy một cách hiệu quả. Như anh đã nói ở trên, thuộc về lỗi hệ thống. Dân trí và xã hội dân sự là những biện pháp căn bản nhất để khắc phục system eror, bước tiếp sau đó là xây dựng một system mới đủ văn minh. Và chẳng cần nhìn đâu xa mà chỉ cần phóng mắt nhìn ra thế giới.

Đây cũng chính là lý do mà việc chống tham nhũng hay chống lạm dụng quyền lực trong các xã hội độc tài hầu như không đạt hiệu quả. Khi nhìn chiến dịch đại truy quét của Tập Cận Bình, dù Tập có bỏ tù nhiều quan chức nữa, truy tố nhiều ủy viên bộ chính trị nữa thì cũng chỉ là trò thanh trừng quyền lực. Vì Tập hoàn toàn né cái lõi của vấn đề là hệ thống lỗi: quyền lực độc tài không được kiểm soát và cũng không thể kiểm soát, vì chịu giám sát và được kiểm soát thì đã không còn là độc tài. Trước sau gì phe cánh Tập đưa lên rồi cũng lại sa vào con đường tha hoá và lạm dụng quyền lực. Đây là kết cục chung của mọi hệ thống độc tài. Câu chuyện cũng giống hệt thế trong lòng Việt Nam. 

Khắc phục lỗi hệ thống là giải pháp toàn diện duy nhất. Người ta có thể trông đợi vào cải cách từ trên xuống, nhưng ở Việt Nam, anh Lãng chỉ trông chờ vào sự thức tỉnh xã hội từ dưới lên. Đặt cược vào lương tâm của một lũ bất lương, tự thân nó đã là trò khôi hài đau đớn.