Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2010

Tin buồn và tin vui

Tình hình là anh mới đi kiểm tra sức khỏe định kỳ. Điều bất ngờ là sau ngần đấy năm ăn hút trụy lạc, sa đọa theo lối sống tệ hại nhưng hấp dẫn của bọn tư sản đồi trụy đang dãy chết phương tây, hóa ra sức khỏe anh vẫn đạt loại A. Đấy là bọn con bò Việt Pháp nó gắn lên đít anh cái dấu chứng nhận ấy sau một loạt các test. Xem ra anh Lãng còn khỏe, và mục tiêu sống đến năm 60 có vẻ vẫn triển vọng đầy sáng sủa.

Tin vui, đối với anh, là sức anh còn khỏe, chưa liệt dương và còn lâu mới chết. Tin buồn, cho các bạn, là vì thế mà các bạn còn phải chịu đựng anh thêm ngót nghét vài chục năm. Trong thời gian ấy, một cơ số các bạn sẽ phải tiếp tục chấp nhận một sự thật khách quan: Các bạn là những con bò .

Từ đầu năm đến nay, thế nào ngồi kiểm đếm anh lại lồi ra một hũ tiền. Đến giờ anh thực sự nghiệm ra một chân lý, tiền bạc và đầu óc có sự tỷ lệ thuận với nhau. Nhận định chiến lược của anh về kinh tế, tài chính và đầu tư hầu như không sai khác so với thực tế. Cố nhiên, anh được tưởng thưởng khá đáng kể cho tầm nhìn ấy. Những mục tiêu anh đặt ra cho cuộc đời hồi 22 tuổi, hầu như đã được thực hiện một cách trọn vẹn. Tiền nhiều, dửng mỡ, cộng thêm số đo vòng bụng tăng dần theo thời gian, có lẽ đã đến lúc anh các bạn phải tìm một bước chuyển mới trong cuộc đời, trước khi bước sang phía bên kia của sườn dốc thoái hóa cả về nghị lực, ý chí và niềm đam mê cuộc sống.

Đây là một lựa chọn khó khăn. Một cơ số những đại gia anh quen, đến giờ có nhõn thú vui là đánh bạc và chém gió sau khi đã có ngót nghét hơn nghìn tỷ tài sản trong tay. Đôi lúc anh thấy cuộc sống thật đáng sợ, là khi con người tích tụ tài sản đến một mức nhất định nào đó, tự nhiên tiền đẻ ra tiền ở một tốc độ khiến xã hội phải bàng hoàng. Cơn sốt đất chóng mặt ở Việt Nam, cộng với những lợi thế tiếp cận thông tin bất cân xứng vốn vẫn sẽ tồn tại thêm ngót 20 năm nữa, khiến số dư tài sản của nhiều đại gia tăng nhanh theo các năm. Đó là cuộc chơi của một số ít người, những thành phần ăn hại, không có chỗ cho đồng bào cần lao dân đen cần cù nhưng kém may mắn. Về mặt cá nhân, anh cho rằng, tất cả những loại người làm giàu từ chứng khoán và bất động sản đều là loại người vô đạo đức, khi kiếm tiền nhanh mà thực sự không tạo ra công ăn việc làm cho xã hội. Tiếc thay, anh cũng thuộc cái đám bất nhân ấy, dù ít nhiều anh cũng đóng góp kha khá thuế cho nhà nước và đảm bảo đời sống (hay là bóc lột) ngót nghét 100 con người.

Nếu có điều gì chia sẻ với các bạn, những thành phần ưu tú, trẻ trung, tuy con bò nhưng đầy nhiệt huyết, là nếu các bạn muốn một Việt Nam hùng cường, hãy lựa chọn xây đắp đất nước từ những điều cụ thể. Hãy học hỏi, đầu tư, và định hướng sự nghiệp trong những công việc góp phần làm ra những sản phẩm cụ thể, có ích trong cuộc sống hàng ngày, tạo ra giá trị và công ăn việc làm cho đồng bào cần lao vốn có dư tính cần cù nhưng bị một thể chế tồi tệ kìm kẹp và bóp nghẹt tiềm năng. Chạy theo những giấc mơ giàu xổi, sẽ khiến Việt Nam vĩnh viễn thành một đất nước làm thuê, bán tài nguyên và nhập hàng thiên hạ về sử dụng.

Nền kinh tế Việt nam vẫn còn là một bãi đất hoang, và còn nhiều cơ hội tưởng thưởng cho những ai có tầm nhìn và có đủ niềm đam mê dấn thân tới cùng cho khát vọng của mình.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2009

Which side are you on?

Trong cuốn hồi ký "Why Vietnam" của L.A Patti, nguyên là trung tá tình báo của Mỹ tại Đông Dương vào cuối thế chiến thứ hai, một người Mỹ đầu tiên và cũng gần như duy nhất trong chính quyền Mỹ có liên hệ trực tiếp với ông Hồ Chí Minh, có kể lại một khoảnh khắc gây ấn tượng không thể mờ phai trong suốt cuộc đời ông ta. Lúc đó đã hết hy vọng xây dựng được một mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ, vốn chẳng để ý gì đến xứ Đông Dương xa xôi, lại càng không thể đem đánh đổi một Việt Nam lạc hậu lúc đó chưa là gì trên bản đồ thế giới với tình đồng minh của người Pháp, vốn rất cần cho liên minh Mỹ, Anh trong việc kiềm chế sức mạnh của Liên Xô tại châu Âu sau thế chiến thứ hai. Sự nghiệp dành độc lập của Việt Nam lúc đó thực sự là đơn côi, dù trước đó đã có những nền tảng nhất định trong việc hợp tác với lực lượng OSS của Mỹ (tiền thân của CIA) trong việc kháng Nhật tại Đông Dương (Những tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Việt Nam năm 1945, nhận được sự huấn luyện và viện trợ vũ khí của cơ quan OSS Mỹ từ Côn Minh, TQ). Ngày 30/09/1946, lúc tình thế Đông Dương đã ở bên bờ vực chiến tranh, một cuộc chiến Pháp - Việt chắc chắn sẽ xảy ra, A Patti đến chào từ biệt ông Hồ. Trong những tháng trước đó, ông Hồ đã nhiều lần gửi thư cho tổng thống Mỹ lúc đó là Truman, mong tìm kiếm được sự ủng hộ của Mỹ đối với sự nghiệp dành độc lập của dân tộc mình nhưng vô vọng. Mỹ vào thời điểm ấy đã chọn ủng hộ người Pháp. Chiến tranh bùng nổ sau đó 3 tháng, kết thúc vào năm 54 với người Pháp tại Điện Biên Phủ và cuốn người Mỹ vào một cuộc chiến dằng dai cho đến khi họ phải rút đi vào năm 73.

 Lời tâm sự cuối cùng của ông Hồ với Patti về cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam: "Tôi sẽ buộc phải tìm cho dân tộc mình một đồng minh, nếu đó không phải là Mỹ thì sẽ phải là một đồng minh khác".

Lịch sử xô đẩy ông Hồ đến việc chọn lựa người TQ và người Nga làm đồng minh trong diễn biến của hai cuộc chiến tranh nối tiếp ở Việt Nam. Ông đã không có lựa chọn khác vì không thể để dân tộc đi tới một mình trong cuộc chiến quá chênh lệch về cán cân lực lượng. Ông Hồ đúng khi tìm được độc lập cho dân tộc mình, nhưng những người kế tục ông sau đó phạm nhiều sai lầm, khiến nền độc lập ấy đi kèm với một Việt Nam chậm tiến và nghèo đói kéo dài nhiều năm sau chiến tranh, trong lúc đại bộ phận những nước xung quanh đều mạnh mẽ vươn lên.

Vinh quang trong chiến tranh của Việt Nam, sau 30 năm, trở thành điều nực cười khi so với sự phồn thịnh của các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonexia, Malaysia ... và đặc biệt là với một thế lực mạnh mẽ trỗi dậy và đang đe doạ cả Á Châu là Trung Quốc.

Câu chuyện về cuộc chiến và lựa chọn của ông Hồ đã thuộc về thế kỷ trước, thế kỷ 20, một thế kỷ ghi dấu ấn với riêng Việt Nam bởi hai cuộc chiến tranh thảm khốc nối tiếp kéo dài 30 năm, và gần hai thập kỷ nghèo đói kế tiếp sau đó của đất nước. Trong tình thế buộc phải lựa chọn, ông Hồ đã tìm ra cho mình một sự lựa chọn cho đến giờ vẫn còn gây nhiều tranh cãi về tính đúng sai.

Năm 2009, trước một Trung Quốc đang lên và ngày càng trở thành một hiểm hoạ, người Việt Nam lại một lần nữa phải trả lời câu hỏi "Which side are you on?"

Thế giới ngày nay nhìn nhận trực tiếp có lẽ chỉ còn hai siêu cường trên thực tế. Một nước Mỹ hùng mạnh đứng đầu thế giới gần 100 năm qua, quyền lực dù lung lay nhiều trong những năm gần đây nhưng vẫn là cường quốc số 1 hành tinh. Bên cạnh đó, là một Trung Hoa khổng lồ với dân số 1,4 tỷ người, chiếm hơn 1/6 dân số địa cầu, và đang vươn lên ngày một mạnh mẽ về kinh tế cũng như quân sự. Nhiều dự báo cho rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Trung Quốc, và quốc gia này sẽ thế chân Mỹ thành nền kinh tế đứng đầu thế giới sau 30 hoặc 40 năm nữa. Tất nhiên mọi dự đoán về tương lai đều có thể là sai lầm, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là Trung Quốc và Mỹ đã trở thành hai thế lực lớn nhất hành tinh hiện nay, và cuốn các nước khác vào một ván bài có tính lựa chọn khi phải tìm lấy cho mình một bên để đứng.

Câu cửa miệng sáo rỗng dạng "chúng ta muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới" chỉ là lời sáo ngữ không thể lừa ai và cũng chẳng thể dối chính mình. Làm bạn với tất cả, cũng đồng nghĩa với việc chẳng có người bạn nào. Và đó chính là thực trạng của Việt Nam hiện nay: Một quốc gia nhỏ yếu, chậm phát triển, và cô đơn giữa thế giới này khi không có lấy một đồng minh đúng nghĩa (Có thể nhắc đến người Lào chăng? nhưng Lào rồi cũng sẽ rất nhanh không đứng cạnh Việt Nam, khi Trung Quốc đang không ngừng khuyếch trương ảnh hưởng ở đó)

Trong cuộc chơi với người Trung Quốc suốt nhiều năm qua, với Việt Nam, luôn là một cuộc chơi nhẫn nhịn. Trung Quốc giúp Việt Nam nguồn súng đạn trong chiến tranh với một động cơ cũng chẳng trong sáng gì. Giống như ở Triều Tiên, Trung Quốc không muốn ranh giới của thế giới phương Tây tiến sát đến biên giới của họ. Ở Triều Tiên, Trung Quốc trực tiếp tham chiến, chấp nhận trả giá để dựng lên một chính phủ Bắc Triều Tiên trung thành làm phên dậu tại Đông Á cho Trung Quốc trong suốt 70 năm qua. Một bức tranh tương phản tại Triều Tiên, miền Bắc là đệ tử của Trung Quốc, được cai trị bởi một chính thể độc tài toàn trị có tính phản động hàng đầu trên thế giới, một nền chính trị có tính cha truyền con nối, dân chúng chết đói hàng năm vì chưa bao giờ đủ ăn, còn chính thể để tồn tại thì tìm mọi cách đầu tư vào quân đội để duy trì sức cai trị cho chế độ. Nam Triều Tiên, ngược lại, hoà nhập vào thế giới văn minh và hiện là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới, nằm trong nhóm nước phát triển OECD.

Với một động cơ tương tự khi Trung Quốc muốn giúp Việt Nam trong cuộc chiến chống người Pháp và người Mỹ, nhằm có một khoảng đệm an toàn cho biên giới quốc gia của họ với thế giới phương Tây. Trung Quốc cũng muốn Việt Nam phân đôi giống như Nam - Bắc Triều Tiên, để duy trì sát tại biên giới mình một quốc gia nhỏ yếu và vâng lời. Ý thức độc lập thống nhất của người Việt Nam mạnh mẽ hơn ý chí áp đặt của Trung Quốc. Và kết quả là người Việt Nam đã thống nhất đất nước của mình bất chấp những cuộc mặc cả đi đêm của Trung Quốc sau lưng Việt Nam. Năm 1974, ngay khi cuộc chiến Việt Nam sắp chấm dứt, Trung Quốc tận dụng thời cơ hai miền Nam Bắc Việt Nam đánh nhau, chớp nhoáng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Khi thấy không thể chặn lại được sự thống nhất đất nước của người Việt, Trung Quốc dựng lên chế độ Khơme đỏ tại Campuchia, tìm mọi cách xúi lực lượng này làm tiên phong gây chiến với Việt Nam. Việt Nam phản đòn, chế độ Pôn Pốt nhanh chóng bị đập tan, Trung Quốc công nhiên lộ mặt gây chiến trực tiếp với Việt Nam. Cuộc chiến tranh tàn bạo năm 1979 nổ ra, trước những thiệt hại lớn, Đặng Tiểu Bình buộc phải rút quân về, dù sau đó xung đột biên giới vẫn dai dẳng nổ ra giữa hai bên. Trong cùng thời kỳ, Đặng thành công đổi mới đưa Trung Quốc đi lên, trong lúc lãnh đạo Việt Nam sai lầm trong con đường phát triển khiến đất nước ngày càng kiệt quệ. Năm 1988, khi Việt Nam đang ở điểm đáy của sự tụt hậu và đói nghèo, tận dụng thời cơ Liên Xô là đồng minh duy nhất của Việt Nam lúc đó đang suy yếu đến tận rìa sụp đổ, Đặng xua quân gây cuộc chiến chớp nhoáng tại Trường Sa và chiếm 8 đảo tại quần đảo này của người Việt Nam.

Nhiều chục năm quan hệ với Trung Quốc, là nhiều chục năm cay đắng đối với Việt Nam. Cộng thêm với một lịch sử hàng nghìn năm liên tiếp phải đánh nhau với những đạo quân xâm lược tràn từ Trung Quốc sang. Một lịch sử luôn gắn với những bài học trả bằng xương máu.
Năm 2009, thế giới khủng hoảng, Trung Quốc mạnh mẽ vươn lên với tư cách của một siêu cường. Đối kháng với Trung Quốc thật là một sai lầm, bởi quốc gia này ngày nay quá mạnh. Có lẽ dễ dàng hơn nhiều nếu chọn cách đi bên cạnh Trung Hoa, bởi đối đầu với một quốc gia khổng lồ kề sát bên mình là một lựa chọn rất thiếu khôn ngoan.

Vấn đề là, Trung Quốc không muốn ai đi cạnh bên mình một cách đích thực. Trong lúc rêu rác những lời tuyên ngôn về tôn trọng hoà bình, thì Trung Quốc đầu tư càng lúc càng mạnh cho việc hiện đại hoá quân sự và quốc phòng, đến mức ngày nay đã thành một thế lực đủ sức đe doạ Á Châu. Trong lúc tuyên truyền về tình thân thiện với các quốc gia láng giềng, thì Trung Quốc đồng thời cho vẽ bản đồ chiếm gần trọn lãnh hải của 6 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Trong lúc nói những lời đường mật về hợp tác cùng phát triển, thì Trung Quốc tìm mọi cách thọc tay vào các nguồn tài nguyên khoáng sản của các nước xung quanh, đổ công nghệ khai thác lạc hậu vào những đất nước này, di dân xâm thực văn hoá, bòn rút tài nguyên và trút vào đó hiểm hoạ môi trường. Trong lúc thế giới đang nóng lên, Trung Quốc cho xây đập chặn hầu hết các con sông dẫn nước qua các quốc gia dưới hạ lưu, bất chấp điều đó gây các thảm hoạ về sinh thái và cuộc sống cho dân cư những quốc gia đó. Và Việt Nam, cay đắng thay lại là nước chịu ảnh hưởng nặng nhất từ những chính sách tàn bạo đó của người Tàu.

Năm 2009, Trung Quốc tiến hành phong toả gần trọn vùng biển Đông của Việt Nam, kiểm soát nó trên thực tế, quét sạch tàu cá của Việt Nam ra khỏi những vùng mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền bất chấp luật pháp quốc tế, đồng thời triển khai những chương trình khai thác thăm dò tài nguyên đầy tham lam. Năm 2009, Trung Quốc cho khánh thành một loạt đập ngăn nước tại các nhánh chính của dòng sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, đẩy các quốc gia dưới hạ lưu như Lào, Thái Lan, Campuchia trước hậu quả nghiêm trọng của việc suy thoái về nông nghiệp và thuỷ sản cũng như môi trường. Hậu quả nghiêm trọng nhất đến với Việt Nam, khi toàn bộ vựa lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long đứng trước mối đe doạ trực tiếp và nghiêm trọng nhất do việc thiếu hụt nước và phù sa từ sông Mê Kong. Nhiều chuyên gia đánh giá, Việt Nam sẽ phải tốn nhiều chục tỷ USD để làm các công trình thuỷ lợi, xây các hồ chứa nước và hệ thống đê ngăn xâm thực nước mặn từ biển để khắc phục những hành vi này của Trung Quốc. Cũng năm 2009, Trung Quốc tìm mọi cách gây sức ép để khai thác các nguồn tài nguyên thô của Việt Nam, đặc biệt là Bauxite tại Tây Nguyên, một kế hoạch đang chịu sự phản đối gay gắt của hầu hết trí thức Việt Nam trước những hậu quả về mặt môi trường, hiệu quả kinh tế không đi đôi với số vốn đầu tư, và đặc biệt là hiểm hoạ về mặt an ninh khi Trung Quốc hiện diện tại mảnh đất chiến lược này.

Việt Nam muốn đi cạnh Trung Quốc hơn ai hết, nếu quốc gia ấy thật sự để cho những nước khác có thể tồn tại cạnh mình và vẫn có cơ hội phát triển đi lên. Nhưng tiếc thay, Trung Quốc đã và đang chỉ chấp nhận cho những nước nhỏ yếu tồn tại cạnh mình với điều kiện thôn tính được lãnh thổ và tài nguyên của những nước đó. Nói cách khác, Trung Quốc để các dân tộc khác tồn tại cạnh mình với điều kiện tước đoạt được tương lai phát triển của những dân tộc ấy, kìm họ trong vòng lạc hậu và đói nghèo để luôn dễ bảo.

Trung Quốc, cả về lịch sử cũng như hiện tại, không cho cơ hội để Việt Nam có thể chọn họ là một đồng minh có thể chấp nhận được.

Người Việt Nam một lần nữa phải chọn cho mình câu trả lời. Để sinh tồn, để có tương lai phát triển, để giữ được chủ quyền lãnh thổ và tránh những hậu quả lâu dài về môi trường cho con cháu mai sau, Việt Nam phải tìm cho mình một lối đi riêng, một chính quyền và một thể chế đáp ứng được đòi hỏi có tính sinh tồn về lợi ích dân tộc và chủ quyền, và những người đồng minh đủ mạnh cho đến khi đất nước phát triển đến một mức đủ để có thể bảo vệ chính mình.
Which side are you on?

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2009

Những thời đại suy tàn

Bữa nay anh Lãng rảnh, vào ngồi bàn láo với các bạn về một thời đại suy tàn. Nhưng để khách quan, anh dùng từ những cho nó có vẻ phổ cập.

Hôm 07/05 vừa rồi, ngồi nhậu cùng một đám tai to, các bạn rủ anh, lúc nào đến vấn an cụ Giáp.

Giáp là một huyền thoại, trong lịch sử của một đất nước mà anh hùng thường là những người giỏi đánh nhau, đương nhiên với vai trò của một vị tướng với chiến thắng vĩ đại trước một cường quốc, ông nghiễm nhiên thành một huyền thoại nổi bật. Huyền thoại ấy càng trở lên lung linh hơn, khi Giáp với lối sống khiêm nhường, khinh thường mọi sự cạnh tranh và có vẻ coi trọng cái đạo làm người của người quân tử. Đặc biệt, khi một đất nước thấp cổ bé họng vì đói nghèo, thành tích để sánh cùng bạn bè 5 châu hầu như chẳng có gì. Khi không thể khoe nhà tao giàu, biệt thự tao to, vợ tao ngon, con tao khỏe ... với các bạn nhà hàng xóm, thì một huyền thoại có tính nổi bật như cụ Giáp vốn được quốc tế nể trọng lại càng trở lên đắt giá. Vì ngần ấy lí do, trong số các nhân vật lịch sử đương đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong hầu hết đánh giá, gồm cả trong quan niệm của anh Lãng, là một người hùng thực sự, cả vì sự nghiệp của ông và cả về nhân cách con người mà ông thể hiện.

Nhưng dẫu sao, ánh hào quang le lói của ông cụ, cũng chỉ đại diện cho vinh quang lụi tàn của thời đại mà ông cụ được vinh danh, cái thời mà thương hiệu Việt Nam đại diện cho công lý và chiến thắng. Một thời đại đã suy tàn.

Từ nhiều năm qua, những câu chuyện luẩn quẩn của Việt Nam trong bài toán phát triển kinh tế, trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích dân tộc đã khiến đại bộ phận tinh hoa tri thức quốc gia tốn nhiều tâm sức. Cố nhiên với loại người gian tham, đểu giả tư lợi cá nhân như anh Lãng của các bạn, thì chuyện đó chẳng có ý nghĩa kặk gì cả, có chăng chỉ là lúc hứng thì bốc phét cho vui. Nhưng dù thế, sự băn khoăn về nó vẫn luôn hiện diện.

Đói, nghèo, sức mạnh yếu cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Đại bộ phận người Việt Nam mang nặng tâm lý tự ti của một nước nhược tiểu khi nhìn ra thế giới, pha lẫn trong đó là niềm mặc cảm tự hào vì vinh quang chiến tranh dân tộc, điều đó khiến tâm trạng của người Việt lâm vào một tình trạng rất khó lí giải: luẩn quẩn trong nỗi tự ti yếu hèn và đan xen trong đó sự quật cường được kế thừa có tính di truyền. Dấu ấn tâm lý ấy, thể hiện khá rõ trong đại bộ phận các phản ứng của đám dân đen đối với các sự kiện lớn của đất nước.

Khi nói về sự yếu kém trong phát triển kinh tế đất nước, ai cũng có thể nhìn ra, chúng ta nghèo, vì Ngu. Nhưng nói thế không có nghĩa là cả nước ngu, mà đúng hơn, là đường lối phát triển đất nước ngu. Một thời gian dài đất nước sau thống nhất, có đủ điều kiện thuận lợi về tự nhiên, một quốc gia có nền nông nghiệp hàng nghìn năm lịch sử mà cả nước đói ăn, câu cửa miệng từ quan được tuyên truyền đến dân: Hậu quả chiến tranh nên mới đói. Châu Âu sau thế chiến thứ hai là một đống gạch vụn, họ không những hết đói, mà vươn lên trở lại thành trung tâm ánh sáng của thời đại trong thời gian rất nhanh. Nhật Bản cũng chẳng khác gì một đống tro tàn, vùng dậy từ đống đổ nát chiến tranh và thành một cường quốc phát triển trong thời gian kỷ lục. Hàn Quốc cũng chẳng khác gì khi chỉ còn là một đám đất hoang, nhưng từ đó đã phát sinh một kỳ tích được lịch sử ghi nhận là con rồng Đông Á. Riêng có Việt Nam, đói ăn lâu dài cho đến khi đất nước đứng trước bờ vực sụp đổ, 11 năm sau chiến tranh, gạo mới được trồng đủ cho người dân ăn. Đó là một kết quả tất yếu của việc một thời gian dài đất nước được lãnh đạo bởi những cái đầu ghi vinh quang bằng thời gian ngồi tù hoặc đấu đá chém giết, chứ không phải bằng tư duy chiến lược và tài năng quản lý.

Bi kịch của sự nghèo đói vì Ngu ấy được làm trầm trọng thêm không phải chỉ bởi sự đói nghèo của dân chúng, mà còn bằng sự tổn hại về lợi ích quốc gia. Các sự kiện mất chủ quyền lãnh thổ năm 88 trên Biển Đông, rồi các sự kiện bi hài xung quanh quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 90, để lại một nỗi chua xót lớn lao đối với đại bộ phận những người trong cuộc.

Đứng trước sự tồn vong của chế độ, giới chóp bu nắm quyền có vẻ như bừng tỉnh. Các chính sách thay đổi kế tiếp nối nhau ra đời. Từ đó đến nay, VN được coi là có mức tăng trưởng khá tại Á Châu và cải thiện được phần nào vị thế quốc tế. Nhưng rất đáng tiếc, những cái nền tảng tăng trưởng ấy được xây dựng trên một cơ sở có quá nhiều thuận lợi: Nguồn tài nguyên quốc gia, nguồn nhân lực rẻ mạt, nguồn tiền kiều hối gửi về từ bên ngoài (10% GDP) ... và đổi lấy một mức tăng trưởng không bao giờ vượt quá con số 9%. Việt Nam từ một con sên, đi nhanh hơn so với chính mình, và chậm hơn so với phần còn lại. So với đối thủ truyền đời là Trung Quốc, Việt Nam tụt hậu nhanh chóng và quá xa. Và chúng ta lại càng không bao giờ đạt tới cái gọi là kỳ tích Á Châu mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông đã từng làm được. So với các quốc gia ở thứ hại hai, cũng còn rất xa chúng ta mới theo kịp nổi Thái Lan, Malaysia hay Indonesia. Có quá nhiều nguyên nhân, từ cơ chế quản lý, chính sách yếu kém, nhân lực trình độ tồi ... nhưng tựu trung lại, là vì Ngu. Dân đen đương nhiên phải ngu, nhưng cũng đám dân đen đó ở các bọn theo đạo hồi mọi rợ như Malaysia, hoặc bọn Khơ me ngu dốt chậm tiến ở Đông Nam Á xa xưa như bọn mọi Thái Lan, giờ bọn đó đã giàu, chí ít cũng vượt trên VN 20 năm phát triển. Bọn dân đen đó, so với bọn dân đen của chúng ta Ngu hơn nhiều, năm 75 tính trung bình hầu như không hơn chúng ta. Nhưng lãnh đạo của chúng ta, thể chế của chúng ta, Ngu hơn nhiều so với lãnh đạo của chúng nó, thể chế của chúng nó.



Ngày nay Việt Nam đang vật lộn một cách đáng thương với vị thế của một tiểu quốc, quốc lực nghèo khó, đại bộ phận dân cư đói nghèo, bị o ép về chủ quyền và tước đoạt lợi ích quốc gia, lãnh đạo bởi một chính thể toàn trị tồn tại dựa vào lịch sử chứ không phải bầu cử và chẳng có đồng minh mẹ nào trên trường quốc tế. Hầu hết người Việt Nam có tâm đau xót nhìn thực trạng ấy, trong nỗi suy tư và phần nào có tính bất lực. Tâm lý chán nản ấy thậm chí ăn sâu ở nhiều suy nghĩ có tính buông xuôi: Đấu thế đé o nào lại bọn Tàu, lựa nó mà sống cho lành. Và từ đó, những vết nhơ quốc thể trước sự luồn cúi của các bạn tai to trước các bạn Tàu, hoặc những nỗi đau về lợi ích quốc gia bị xâm hại trên Biển Đông, hoặc chính tại lãnh thổ quốc gia như Bô sit Tây Nguyên chợt trở thành điều gì đó có tính tồn tại hiển nhiên.

Trò luồn cúi được coi là trò đu dây, một sự khép mình được xem là thành công khéo léo. Tất cả đại diện cho một thế cục có tính khôi hài: Một thời đại được dựng lên từ lịch sử chống ngoại xâm, nó thống nhất được đất nước, nhưng đang vật lộn để kéo dài lấy sự vinh quang, hay nói đúng hơn là kéo dài sự cai trị. Một thời đại suy tàn. Hệ thống chính trị Việt Nam có nhiều thay đổi, nhưng thay đổi đó hướng tới mục tiêu duy trì sự tồn tại của chế độ hơn là đáp ứng quyền lợi quốc gia. Một cách logic tất yếu, tốc độ thay đổi của hệ thống do đó vĩnh viễn không theo kịp tốc độ thay đổi mà quyền lợi quốc gia yêu cầu. Chúng ta tụt hậu và bơ vơ trong thế giới này, như một điều hoàn toàn hiển nhiên.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp là những anh hùng dân tộc. Vinh quang ông Hồ làm được năm 45, được cụ Giáp tô đậm thêm với chiến tích Điện Biên Phủ năm 54, trên thực tế, thời đại mà ông Hồ dựng ra đã lên đến đỉnh vinh quang từ lúc đó. Sứ mệnh lịch sử của ông Hồ, cùng với những người thuộc thời đại của ông, là tìm lại quyền phát ngôn cho người Việt Nam với tư cách là một dân tộc độc lập, lúc đó đã xong. Nếu thời đại ấy kết thúc năm 1954, và thay vì năm 1975 miền Bắc thống nhất miền Nam mà ngược lại, thì có lẽ bây giờ Việt Nam đã không quá khốn đốn trước các câu chuyện vật lộn về chủ quyền với Trung Quốc, không quá khốn đốn để trải nghiệm một thời gian đói nghèo lâu dài mới định hướng đất nước theo hướng thị trường và văn minh phương tây. Cũng không phải ở tình trạng một nước nhược tiểu, không có một đồng minh đúng nghĩa và bơ vơ như hiện nay. Năm 1954, nếu giả dụ cụ Giáp và những đồng chí của mình chạy mẹ nó sang miền Nam khiến cục thế đảo chiều, có khi lại là một cơ may lớn của dân tộc.

Chính thể miền Nam cũ được lịch sử chính thống tô vẽ là những kẻ bất tài, tham nhũng, tay sai và thối nát. Điều đó chẳng nói lên điều gì, khi thực tế Việt Nam hiện nay cũng gần đội sổ từ dưới lên trên bảng xếp hạng tham nhũng và minh bạch tại Á Châu. Chỉ có thể khẳng định chắc chắn rằng, nếu lịch sử 1975 đảo chiều cho phe chiến thắng và chiến bại, Việt Nam sẽ có một nền kinh tế thị trường sớm hơn, tiếp cận với thế giới phương tây và hòa nhập với phần còn lại của thế giới nhanh hơn vài chục năm, dân Việt Nam sẽ đi du học sớm hơn, tiếp tu được lối sống ăn hút trụy lạc của bọn phương tây cũng sớm hơn, và chắc chắn có bên cạnh một đồng minh hùng mạnh cũng giống như Nhật Bản, Nam Hàn đang có hiện giờ để đảm bảo rằng có thể mạnh miệng hơn trong bảo vệ lợi ích quốc gia và không có những câu chuyện đau lòng trên Biển Đông hay câu chuyện làm trăn trở thời cuộc như Bô xít Tây Nguyên.

Cụ Giáp, gương mặt sót lại cuối cùng của thời đại được dựng lên bởi ông Hồ, đang ở tuổi gần đất xa trời. Cụ đại diện cho một thời đại mà niềm tự hào và vinh quang dân tộc được kéo dài thêm bởi những chiến công, một thời đại đang suy tàn và đáng ra đã nên kết thúc.

Tất nhiên là nhắc đến câu chuyện thế này chỉ để nói láo cho nó vui, chứ thực ra có ý nghĩa kặk gì đâu. Các bạn, gồm cả bọn con bò vẫn thường vào đây hóng hớt, cứ xem như câu chuyện bốc phét mà anh của các bạn vẫn tùy hứng viết ra mà thôi.



P/S Có vài bạn con bò thắc mắc với anh, tại sao gọi trống không từ "Giáp". Các bạn nên hiểu, anh dùng từ "Giáp" với tư cách một "khái niệm" chứ không phải như một "danh xưng". Bản thân lời anh Lãng: "Giáp là một huyền thoại" cũng tự thân nói lên ý nghĩa của cái khái niệm ấy.

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2008

Bắc Caucasus và một trật tự thế giới mới (Phần 2)

Bài nhận định này anh Lãng viết ngày 11/12/2008, sau khi cuộc chiến Caucasus diễn ra được 4 ngày. Bọn chã có thể tìm thấy ở đó những nhận định, mà về sau có lẽ không sai khác mấy với diễn biến thực tế.

Cuộc chiến Bắc Cápcadơ bước sang ngày thứ 4 và phần nào các phía tham gia đều đã lộ hết các quân bài. Sau màn hứa hẹn hoành tráng và đẹp đẽ ban đầu của phương tây, bức màn màu hồng đối với Saakashvili hoàn toàn sụp đổ. Không thấy đâu một hành động tương trợ thực sự có ý nghĩa đến từ Mỹ hay Nato để chặn bom đạn của người Nga, trong lúc bão đạn vẫn tiếp tục giội xuống Gruzia. Lịch sử Gruzia sẽ ghi nhớ về Saakashvili, không với tư cách một tổng thống mà là một tay tội đồ, một gã tay sai đem sinh mệnh người dân và lợi ích quốc gia ra làm mồi cho bom đạn.

Đối với Putin, các mục tiêu chiến lược đều đã đạt được về căn bản. Trước hết là Nam Osetia và Apkhazia, sau cuộc chiến này, vĩnh viễn không còn khả năng tái nhập vào Gruzia. Vấn đề chỉ còn nằm ở chỗ Putin muốn xử lý những mảnh đất này như thế nào: Công nhận độc lập, sau dăm năm tổ chức trưng cầu dân ý rồi sát nhập vào Nga, hay trực tiếp nhập luôn vào lãnh thổ Nga sau cuộc chiến. Dù sao đây không phải là một vấn đề đáng bận tâm với Putin. Đế quốc Nga có lãnh thổ trải dài vắt từ Á sang Âu, việc suy giảm suất sinh khiến Nga ở tình trạng thiếu người chứ không thiếu đất.

Nhưng chính yếu nhất là hệ thống dẫn dầu xuyên từ Trung Á do Mỹ và phương tây khởi xướng. Đối với nước Nga, đây mới là cục xương mắc trong cổ họng. Hệ thống này khiến Nga mất quyền kiểm soát đối với nguồn dầu tại Kazashtan và Azecbaizan, cũng đồng thời đe dọa vị thế thống trị của Nga đối với thị trường dầu và khí đốt châu Âu. Chỉ vài ngày sau cuộc chiến, Azecbaizan tuyên bố khóa nguồn dầu và dự định chuyển sang sử dụng hệ thống ống dẫn có từ thời Xô Viết, đến Novosibiec của Nga. Ngày thứ 4 cuộc chiến, Kazashtan khóa nốt van dầu theo gót Azecbaizan. Đây là cú đòn nặng nhất giáng vào lợi ích của Mỹ và Nato tại Capcadơ, và cũng là mục tiêu chiến lược hàng đầu mà người Nga từ lâu mơ tới. Sự ngây thơ và ngờ nghệch của Saakashvili đã đem lại cho người Nga một cơ hội bằng vàng để làm được một điều vốn trước đây vẫn là không tưởng.

Với thắng lợi quá lớn đang đạt được, có thể nhận rõ chiến lược những ngày tới của người Nga sẽ không như những gì phương Tây mong muốn. Nga có thể không thèm và không cần quan tâm ngay đến số phận của Saakashvili, chính dân Gruzia sẽ lo phần tính sổ với một kẻ đem tính mạng người dân và quyền lợi quốc gia bán rẻ cho lợi ích nước ngoài. Nhưng ngược lại, thái độ của Nga với hai phần lãnh thổ li khai Nam Osetia và Apkhazia sẽ cực kỳ cứng rắn. Chắc chắn là Nga sẽ tiêu diệt bằng hết các lực lượng của Gruzia xung quanh các lãnh thổ này, và duy trì hai miền li khai này như hai phần mũi dùi cắm sâu vào Gruzia, cho đến khi tình hình chính trị tại quốc gia này nghiêng về phía phù hợp với lợi ích của Nga. Một kịch bản tuyệt đẹp là Nga sẽ lấy cớ về sự bội tín và tấn công trước của Gruzia, để tiếp tục duy trì quân đội thường trực tại các lãnh thổ này. Hơn thế nữa, học theo Mỹ với Iraq, Nga có thể định ra các vùng cấm bay, đặt toàn bộ lãnh thổ Gruzia dưới sức ép thường xuyên, mà điều cốt yếu nhất là để hệ thống ống dẫn dầu qua Gruzia không bao giờ dưới sự an toàn. Mọi chuyện còn lại chỉ là việc ngồi chờ cho đến lúc một chính phủ đáp ứng lợi ích của Nga được người Gruzia tự dựng lên ở Tbilixi. Và nếu như thế, câu chuyện Gru gia nhập Nato cũng vĩnh viễn ném vào sọt rác. Với việc Mỹ và phương tây bỏ mặc Saakashvili ngày ngày ăn bom đạn, còn ai dám đùa với tăng, pháo của người Nga? Và hơn hết thảy, giờ đây bỗng nhiên Nga lại thấy chỉ một mình kiểm soát nguồn dầu đến từ Kazashstan và Azecbaizan. Thế độc tôn khống chế mọi nguồn dầu và khí đốt Trung Á vốn người Nga chỉ có vào thời Xô Viết, cuối cùng đã lại được Saakavili ngờ nghệch dâng lên. Trái đắng này, nước Mỹ sẽ còn phải ngậm rất lâu, hàng chục tỷ USD chi cho hệ thống dẫn dầu xuyên qua Gruzia coi như đổ sông đổ biển trong tay một gã tay sai ngu nhất thời đại, mà tiếc thay, đó lại là gã tay sai do chính Mỹ đào tạo lên.
Những sự kiện chính trị xoay vần cũng nhanh chóng bộc lộ các xu thế mới. Người ta thấy xuất hiện ở Tbilixi các ngoại trưởng Pháp và Phần Lan. Bom đạn không thể đùa, nên hai ông này nhanh chóng hối thúc Saakashvili ký vào một công hàm ngừng bắn, để rồi đích thân các ông ngoại trưởng này sẽ mang sang trình với Putin. Sở dĩ có sự nhiêu khê về mặt lễ tiết này, vì cách đó một ngày khi Putin được hỏi về sự kiện Gruzia trao đích danh công hàm đề nghị ngừng bắn cho đại sứ Nga, Putin nhận xét đầy châm biếm "Gruzia vừa mới chủ động gây chiến ngày hôm qua, tôi tin rằng ông Saakashvili sẽ không mất danh dự đến nỗi kêu gọi ngừng bắn chỉ sau có một ngày. Có lẽ đó là công hàm giả". Tổng thống Pháp Sakozy cũng cấp tốc lên kế hoạch tới Nga để thuyết phục bom, pháo Nga tạm thời dừng lại. Thế nhưng người Nga có lẽ chỉ cười thầm. Nhỏ nhẹ nhưng thuyết phục, họ chỉ ra rằng Saakashvili liên tục hết tuyên bố ngừng bắn rồi lại ra lệnh tấn công đến hàng chục lần trong vỏn vẹn có 4 ngày qua. Và Nga đang tiếp tục chơi theo luật của mình. Bom pháo tiếp tục oanh tạc có chọn lọc vào các mục tiêu quân sự, một tối hậu thư được đưa ra với 4000 lính Gruzia đang tham chiến tại ngoại vi Apkhazia: Đầu hàng không điều kiện.

Bạn của Putin, bà Merkel được loan tin sẽ đến Sochi. Có lẽ người Đức sẽ tiếp tục nhận được cam kết mạnh mẽ của Putin về việc Nga sẽ bảo đảm nguồn cung ứng khí đốt và nguồn dầu. Trong bối cảnh nguồn dầu từ Kazashstan và Azecbaizan một lần nữa lại chảy qua Nga, với Nga, câu chuyện thật quá dễ dàng. Nước Đức và châu Âu còn cần gì hơn thế.

Người Ixrael cũng cất lên tiếng nói của mình, tô đậm thêm sự ngờ nghệch đáng thương của Saakashvili: Bộ ngoại giao Ixrael kiến nghị đình chỉ mọi thương vụ bán vũ khí cho Gruzia, vì có thể khiến người Nga mếch lòng. Nga mếch lòng tất nhiên cũng không làm gì được Ixrael, nhưng Nga mếch lòng lại có thể nhồi một loạt giàn phòng không tân tiến S300 cho người Iran. Liệu Ixrael có đủ can đảm tiếp tục bán vũ khí cho Gruzia, để rồi đối diện với nguy cơ tận thế của mình?

Amadinezad tất nhiên vô cùng hoan hỷ. Nga bị phương tây chọc giận, một cơ hội tuyệt vời để Iran tìm kiếm thêm tình thân thiết với người Nga, hay nói đúng hơn là với các nguồn khí tài hiện đại của Nga. Trước sức ép đến từ Mỹ và Ixrael đối với tham vọng hạt nhân của Iran, người Iran cần hơn bao giờ hết các phương tiện chiến tranh hiện đại. Mà nhất là, Iran không thiếu tiền. Cho nên chẳng mấy ngạc nhiên khi Iran nhanh chóng tuyên bố Saakashvili là một tay tội đồ diệt chủng, và rằng Iran sẵn sàng hỗ trợ nạn nhân, tức là nam Osetia, hay nói đúng hơn là hỗ trợ người Nga. Với lá bài Iran trong tay, Putin có thêm một đòn đấm dứ với người Mỹ: Hãy tự giới hạn hành động của mình, bằng không Iran sẽ có thêm không ít phương tiện đủ gây đau cho Mỹ và đồng minh.

Ở một nơi còn xa xôi hơn, kề sát nách nước Mỹ, Cuba cũng đã đáp lời. Raun Castro, người trưởng thành từ thời Xô Viết, nhanh chóng lên tiếng nói ủng hộ người Nga. Việc Cuba, một nước lạc hậu, nhỏ bé nằm bên rìa nước Mỹ có ủng hộ hoặc phản đối vốn chẳng có ý nghĩa gì với tình hình chiến cuộc. Nhưng ở một góc độ sâu xa hơn, nó lại rất có ý nghĩa khi gần đây Nga và Cuba đang thương thảo về kế hoạch đặt một căn cứ cho lực lượng không quân chiến lược của Nga tại hòn đảo này. Không quân chiến lược không phải vì máy bay loại chiến lược sẽ to, chuyện đó là đương nhiên. Vấn đề không phải ở chỗ máy bay to, mà các máy bay to ấy được thiết kế để mang bom và đạn đạo hạt nhân. Khi Mỹ chơi con bài lá chắn tên lửa và tìm cách đẩy biên giới Nato đến sát lãnh thổ Nga, thì Putin cũng nhẹ nhàng ra đòn đáp trả. Với Mỹ thì đây còn là cái dằm khó nuốt hơn nhiều so với cục tức đang hứng chịu tại Gruzia. Đây sẽ còn là một câu chuyện dài và hẳn không hứa hẹn điều gì sáng sủa đối với người Mỹ.

Nước Nga đang trở lại, bằng sức mạnh quân sự không ai dám nghi ngờ, và hơn hết thảy, là bằng vị trí ngày càng có ý nghĩa đối với Châu Âu. Không ai dám quên một thực tế, Putin đang nắm van dầu. Nước Đức có lẽ đã nhìn ra một thực tế, là xác suất để Nga tấn công một nước Tây Âu gần như đã giảm tới 0, trong khi đó hợp tác với một quốc gia có nhiều thế mạnh như Nga lại có thể đảm bảo an ninh chiến lược cho châu Âu cả về năng lượng lẫn quân sự. Cuộc chiến Gruzia khép lại, nhưng đằng sau nó sẽ là vị thế lên cao của người Nga và một trục hợp tác chiến lược ngày càng gắn kết hơn xuyên suốt Nga, Đức, EU. Khi Putin thân thiết hơn với châu Âu, có lẽ rồi tới lượt Pháp, Anh sẽ càng ngày càng thấy nước Mỹ trở nên thừa. Một xu thế biến chuyển toàn cầu, đang hình thành sau một lò lửa nhỏ.

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2008

Bắc Caucasus và một trật tự thế giới mới (Phần 1)

Có nhiều bạn lâu nay đọc bài viết của anh đặt ra câu hỏi: "Tại sao bác Lãng hay bốc phét về kinh tế và chính trị". Câu trả lời của anh, thứ nhất là vì anh rất thích tiền, thứ hai, là vì anh thích xem thiên hạ đánh nhau. Cho nên bất cứ cái gì dính đến những chuyện như thế, anh đều rất quan tâm.

Có bạn lại hỏi tiếp: "Bác thích nhìn thiên hạ đánh nhau, vậy bác không thương người vô tội hay sao". Câu trả lời của anh: "Thủ đoạn đểu giả tàn bạo vô nhân đạo như anh của các bạn, xưa nay có đe'o bao giờ biết thương người vô tội, trừ khi bọn vô tội ấy có dính dáng đến nhân dân Việt Nam trung dũng anh hùng"

Cho nên với cuộc chiến khốc liệt ở Bắc Cápcadơ, đối với anh các bạn, chỉ là một sự kiện tồn tại khách quan đang diễn ra, kiểu giống lũ lụt hay giông bão gì đó, và anh từ đó đọc ra các xu thế lớn. Những xu thế ấy sẽ tác động gì đến thế lực thế giới, và đặc biệt là đến Việt Nam, đó mới là thứ anh quan tâm. Còn nhân dân vô tội ở tận đâu đâu, anh quan tâm làm cái đe'o gì. Vô tội, về mặt triết học mà nói, có khi lại chính là một tội cực nặng.

(Bài viết dưới đây anh Lãng viết vào ngày 8/8/2008, khi cuộc chiến Caucasus diễn ra đến ngày thứ hai, để dạy dỗ bọn chã về cách nhìn toàn cảnh với tình hình chiến lược và chiến cục toàn cầu)

Bắc Caucasus và một trật tự thế giới mới


Ngày 8/8, toàn thế giới hướng ánh mắt về lễ khai mạc Olimpic diễn ra ở Bắc Kinh, nhưng ở một nơi cách trung tâm của sự chú ý rất xa, chiến tranh bùng nổ. Giờ đây thay vì việc hướng sự tập trung vào các sự kiện tại đại hội thể thao lớn nhất thế giới, hệ thống truyền thông toàn cầu lại đang theo sát diễn biến của cuộc chiến tranh đang mỗi lúc một lan rộng tại Bắc Cápcadơ (Caucasus).


Cuộc chiến nổ ra có lẽ không bất ngờ với những người trong cuộc, nhưng là một sự bất ngờ lớn đối với phần còn lại của thế giới. Gruzia, một quốc gia nhỏ với 4,5 tr dân, tổng quân số hiện tại có khoảng 39.000 người, tiến công vào vùng lãnh thổ tuyên bố li khai nam Osetia, có đội quân thường trực ngót 3000 người và vỏn vẹn có 70000 dân. Điểm khác biệt duy nhất, là tuyệt đại bộ phận dân cư tại nam Ossestia đều mang quốc tịch Nga, và đã từ lâu, vùng đất này mong muốn được sát nhập vào vùng bắc Osetia, nơi có những người đồng chủng tộc và đã từ lâu là một hợp phần của nước Nga. Nga hậu thuẫn cho sự tồn tại của vùng đất li khai này, và từ lâu duy trì một lực lượng quân sự thường trực trên 2000 người với danh nghĩa gìn giữ hòa bình.


Chiến tranh Osetia bắt nguồn từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Vào thời điểm Liên Xô tan rã, Gruzia là một trong số 15 quốc gia tuyên bố độc lập và gia nhập cộng đồng các nước SNG. Lãnh thổ nam Osetia về mặt lịch sử, thuộc về đại đế quốc Nga trong một thời gian khá dài. Khi liên bang Xô Viết gia đời và Gruzia bị cưỡng bách gia nhập, chính quyền Xô Viết phân chia các lãnh thổ trực thuộc mình, để tiện nắn thẳng đường biên giới lãnh thổ, đã cắt phần nam Osetia rời khỏi phần bắc và giao quyền quản lí hành chính về Gruzia. Lúc đó với Liên Xô chỉ là một vấn đề quản lí hành chính có tính nội bộ, nhưng lại là tiền đề cho cuộc xung đột kéo dài gần 20 năm qua tại Bắc Capcadơ khi siêu cường ấy xụp đổ. Ngay khi Gruzia tách khỏi Liên Xô, cư dân tại nam Osetia đã tự tuyên bố độc lập và mưu cầu việc sát nhập với miền bắc Osetia thuộc Nga. Chiến sự lan rộng trong suốt những năm 91, có lúc đến tận gần thủ đô Tbilixi của Gruzia. Chỉ đến khi Nga can thiệp làm trung gian chấm dứt xung đột, chiến sự mới dừng lại và nam Osetia vẫn tồn tại một cách tách biệt với chính quyền Gruzia cho đến tận ngày nay.


Nước Nga những năm 90, vật lộn trong cơn đói kém, suy giảm uy thế trên chính trường thế giới và tình hình trong khu vực hầu như được giữ nguyên trạng thái ban đầu. Nhưng mọi thứ đã thay đổi kể từ khi Putin lên nắm quyền và khôi phục được sức mạnh nước Nga. Trong thế mạnh ngày càng tăng của đế quốc Nga một thời, bỗng nhiên Gruzia quay trở lại thành một phần trung tâm của thế giới. Người Mỹ và đồng minh nhìn thấy ở đây một tiền đồn có thể giúp khống chế sức mạnh của Nga. Cuộc cách mạng nhung năm 2004 đưa Saakashlivi, một sinh viên du học tại Mỹ lên thành tổng thống Gruzia. Cũng bắt đầu từ thời điểm này, Gruzia nỗ lực tìm cách gia nhập Nato và hướng về thế giới phương tây. Điều bất hạnh với Gruzia, là họ đã có một chính phủ muốn tìm kiếm sự trợ giúp ở một nơi xa xôi, trong khi nguồn sống của Gruzia không đến từ đâu khác mà chính từ nước Nga.


Hơn một triệu người Gruzia đang sinh sống tại Nga, và hàng năm họ gửi về cho thân nhân một lượng kiều hối quan trọng để nuôi sống gia đình ở quê nhà. Gruzia thuần túy là một nước nông nghiệp, không có nguồn tài nguyên gì đáng kể, các ngành kinh tế, công nghiệp hầu như không phát triển với số dân ít ỏi chỉ khoảng 4,5 tr người, GPD bình quân đầu người năm 2006 tính theo sức mua bình quân chỉ vỏn vẹn 3500 USD, xấp xỉ với Việt Nam. Ngành xuất khẩu chính của Gruzia là rượu vang, và thị trường lớn nhất, trực tiếp nhất và quan trọng nhất của nó lại chính là nước Nga. Trước năm 2006, chính sách của Nga với Gruzia khá ưu ái. Nước này được mua khí đốt và năng lượng từ Nga với mức giá từ thời Liên Xô cũ, thấp hơn mức Nga bán cho các nước phương tây tới 12 lần. Trong nhiều năm trời, dù các vùng đất li khai Apkhazia và nam Osetia nhiều lần đề nghị Nga công nhận độc lập, nhưng Nga vẫn từ chối thực hiện điều này. Chính thái độ bài Nga của chính phủ thân phương tây Sakashvili đã khiến mọi thứ thay đổi. Đối với Nga, việc Gruzia, một nước nằm sát nước Nga gia nhập Nato là điều không chấp nhận nổi. Nhưng điều đầu tiên Sakashvili làm khi lên nắm quyền là tìm cách gia nhập tổ chức này. Putin nhiều lần cảnh cáo, và trừng phạt Gruzia với sắc lệnh cấm nhập rượu vang từ Gruzia và nâng giá khí đốt bán bằng mức giá phương Tây. Thái độ của Putin lạnh lùng nhưng rõ ràng: "Không thể chấp nhận cho những kẻ sống nhờ trên lưng chúng ta nhưng lại chơi xấu chúng ta". Thay vì việc cải thiện quan hệ với Nga và tìm cách làm dịu tình hình, Sakashvili đi một nước cờ mạo hiểm hơn, hệ thống dẫn dầu Trung Á do Mỹ khởi xướng được xây một phần qua lãnh thổ Gruzia, với ý nghĩa sẽ làm giảm vị thế của Nga đối với thị trường dầu khí phương tây khi các nguồn dầu từ Trung Á có thể đi theo một đường khác. Thái độ bài Nga của Sakashvili càng lúc càng làm tình hình xấu thêm. Nga cấp quốc tịch cho phần lớn cư dân tại nam Osetia và Apkhazia, các vùng đất li khai thuộc Gruzia, dù vẫn từ chối công nhận độc lập của các lãnh thổ này. Mỹ hậu thuẫn cho chính phủ của Sakashvili bằng các lời hứa hẹn trợ giúp gia nhập Nato, đồng thời cử viện trợ quân sự và cử cố vấn huấn luyện đến Gruzia. Những tín hiệu đó có lẽ đã khiến Sakashvili mất khả năng tư duy thực tế, và đúng vào ngày khai mạc Olimpic Bắc Kinh, Gruzia xua quân tấn công nam Osetia, gây ra cái chết cho khoảng 1500 người Osetia, và tệ hại hơn, lính Nga trong lực lượng gìn giữ hòa bình cũng bị tấn công, với 10 người tử nạn trong ngày tấn công đầu tiên.


Putin tại Bắc Kinh, trước 80 nguyên thủ quốc gia cùng đến tham dự lễ khai mạc Olimpic, nhanh chóng biểu thị thái độ và quyền uy của mình. Bài phát biểu của Putin gây một cảm giác rùng mình cho những người dự khán về một nước Nga thực sự bị chọc giận. Cùng lúc tại Mouscou, Mevedev tuyên bố những kẻ giết hại công dân Nga và xúc phạm danh dự người Nga phải bị trừng trị. Chưa có ai dám coi thường nước Nga, ngay cả vào lúc nó suy yếu nhất, huống hồ lại là bây giờ, khi Nga không còn là một nước Nga rối ren dưới thời B.Enxin. Nước Nga mới của Putin nhanh chóng đáp lời. Ngay trong ngày 8/8 sau khi Gruzia tổng tấn công Txkhinvali, thủ phủ Nam Osetia, 150 xe tăng hạng nặng của Nga thâm nhập vùng chiến sự. Sang đến ngày 9/8 Nga hầu như tái chiếm vùng lãnh thổ này. Máy bay Nga oanh tạc sâu vào các căn cứ quân sự trong lãnh thổ Gruzia. Cảng biển quan trọng nhất của Gruzia Potin bị oanh tạc nặng nề. Tin chiến sự mới nhất là Nga đã điều đến Osetia các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ và 2 sư đoàn dù đột kích. Tính riêng lực lượng của tập đoàn quân 58, đã có 2 sư đoàn bộ binh cơ giới hợp thành, trên 300 xe tăng hạng nặng với quân số lên tới 100.000 người, gấp 3 lần tổng binh lực Gruzia.
Chiến tranh không có chỗ cho sự ngây thơ. Và Putin thì rõ ràng không phải là một gã ngây thơ. Đã từ lâu tập đoàn quân 58 tinh nhuệ của Nga được bố trí trên hướng bắc Cápcado mà ai cũng hiểu là để sẵn sàng với những tình huống xung đột có thể có với Gruzia. Điều bất hạnh lớn nhất với Gruzia có lẽ chính từ tổng thống Gruzia Sakashvili. Chính trị gia trẻ tuổi bảnh bao, được đào tạo ở Mỹ về, đến giờ có thể nói là một người ngây thơ về chính trị không hơn không kém. Trong khi Gruzia mua khí đốt giá rẻ phi thị trường từ Nga, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp vào Nga và sống dựa vào lượng kiều hối do 1,5 triệu người Gruzia làm việc từ Nga chuyển về thì Sakashvili lại muốn đưa Gruzia gia nhập Nato và thế giới phương tây. Thay vì việc củng cố tình hữu nghị với nước Nga, Sakashvili lại tìm kiếm chiến tranh. Và giờ thì Sakashvili và cả nước Gruzia đang bàng hoàng. Nga huy động bộ máy chiến tranh kinh khủng của mình, tập kết quân đội, xe tăng hạng nặng và oanh tạc vào các căn cứ quân sự trọng yếu trên khắp lãnh thổ Gruzia. Các sân bay, cảng biển đều bị oanh kích, đường không đến Gruzia đã bị cắt đứt. Có lẽ không quá 1 ngày tới, với sự tham chiến của hạm đội biển đen, Gruzia sẽ hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài, ngoại trừ phần tiếp giáp với biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lúc đó, Nato và Mỹ, phản ứng chiếu lệ với lời tuyên bố kêu gọi Nga rút quân và hai phía trở về nguyên trạng. Niềm ảo tưởng của Sakashvili tan thành bọt nước trong khi Gruzia đang hứng cơn bão đạn từ sự thịnh nộ của nước Nga.


Trong lúc Nga về mặt chính thức vẫn chỉ tuyên bố tham chiến nhằm ngăn chặn Gruzia tàn sát người Osetia và tấn công vào lính Nga trong lực lượng gìn giữ hòa bình. Ở phía đối diện, thật khá thảm hại với người Gruzia khi tổng thống của họ hô hào tuyên chiến với nước Nga. Nếu Putin cần đến một cái cớ để dẹp bỏ chính phủ thân phương tây tại Gruzia bằng vũ lực, thì phải nói Sakashvili đã phối hợp một cách rất nhịp nhàng. Trong các phản ứng rối trí, Sakashvili nhiều lần đưa ra các tuyên bố trái ngược nhau, lúc thì kêu gọi ngừng bắn, lúc thì hô hào chiến tranh với nước Nga. Nếu nói rằng Sakashvili là một tai họa lớn nhất cho Gruzia, cũng không có gì quá mức so với sự thật.


Một điều hiển nhiên là người Nga sẽ không dừng bước. Nga đang tiếp tục tập kết quân đội và bộ máy chiến tranh kinh khủng của mình đến Bắc Capcado. Nga có hoàn toàn đầy đủ lí do để phát động tiến công "trừng phạt" Gruzia: Lính trong lực lượng gìn giữ hòa bình của họ bị tấn công trước, Sakashvili bội tín tấn công nam Osetia ngay khi đồng ý ngừng bắn với lực lượng li khai trong ngày 7/8 với sự trung gian hòa giải của Nga, và nhất là, có đến 1500 thường dân nam Osetia mang quốc tịch Nga tử nạn sau các cuộc tấn công của Gruzia vào Tskhinvali, một bằng cớ rất xác đáng để Putin gán lên đầu Sakashvili tội danh diệt chủng.


Sinh mạng chính trị của Sakashvili sẽ được an bài có lẽ trong không quá 2 tuần trước mắt. Dù kết quả cuộc chiến thế nào, chắc chắn Mỹ sẽ bị đánh bật ảnh hưởng khỏi Gruzia và vùng Capcado, và viễn cảnh đường ống dẫn dầu từ Trung Á đến châu âu qua ngả Gruzia có thể nói đã tan thành bọt nước. Tất cả hiện giờ phụ thuộc vào nước Nga và về mức độ của đòn "trừng phạt" mà Nga muốn giáng xuống đầu Gruzia.


Điều chắc chắn trong tương lai là một chính phủ thân Nga sẽ được dựng lên ở Gruzia. Nga sẽ không để tình hình rối ren quá lâu để tránh biến Gruzia thành một vùng bất ổn ngay sát nách mình. Dù sao cuộc chiến tranh này sẽ một lần nữa đánh dấu sự trở lại của nước Nga với tư cách một siêu cường sau nhiều thập niên muối mặt.


Với Bush, câu chuyện Gruzia tiếp tục thêm vào một dấu ấn buồn trong sự nghiệp của ông ta. Nước Mỹ đã chính thức phải ký kết một lịch trình rút quân khỏi Iraq, đánh dấu cho một cuộc chiến can thiệp thất bại, và giờ đây là sự sụp đổ không thể tránh khỏi của một chính phủ do Mỹ dựng lên ở Gruzia. Trong lúc Putin nổi giận giộng bom xuống Gruzia, Bush không thể và không dám làm gì khác hơn ngoài lời kêu gọi ngừng bắn. Olimpic Bắc Kinh là câu chuyện của người Trung Quốc, và cuộc chiến Gruzia là câu chuyện của người Nga. Sự lặng lẽ và mờ nhạt của nước Mỹ bên cạnh những sự kiện nổi trội này, thế giới đã đến thời điểm của một trật tự mới thành hình.


ĐCM nó, trong lúc này Khựa đang ngày một mạnh lên. Nước Mỹ suy yếu và phải rời bỏ nỗ lực tại vùng Trung á và Bắc Capcado, liệu có thể nào Đông Nam Á sẽ là nơi mà người Mỹ tập trung nỗ lực? Việt Nam không phải là Gruzia và Khựa thì càng không thể hành xử theo cách mà Nga có thể làm với Gruzia. Nhưng rõ ràng tìm kiếm an ninh và hòa bình trong bối cảnh dã tâm của Khựa với biển đông ngày càng tăng theo giời gian sẽ ngày càng không đơn giản. Bức tranh chiến lược và chiến cục thế giới, sau kỳ Olimpic, cuối cùng sẽ có diễn biến gì?

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2008

Giải pháp nào cho công giáo và hòa hợp dân tộc?


Trong nhiều năm qua, người ta thường thấy câu cửa miệng của các vị chức sắc cả tôn giáo và phi tôn giáo là chủ chương "Tốt đời, đẹp đạo". Hiểu theo một nghĩa có tính căn bản, nghĩa là Đạo và Đời hoà hợp với nhau, giữa thế tục và tín ngưỡng có sự bổ trợ để đạt tới một trình độ mới về mức sống vật chất và văn hoá tinh thần.

Tiếc thay, chủ trương ấy chỉ có thể đạt được nếu tôn giáo thực sự là một thứ không dính dáng tới thế quyền (quyền lực thế tục) và bản thân những người cầm đầu tôn giáo ấy thực sự là những người đạt tới đẳng cấp giác ngộ đối với giáo lý của mình. Lịch sử phát triển của Gia tô giáo, hay Ki tô giáo hoặc tới Việt Nam thì nó được gọi là công giáo, đáng tiếc thay, luôn là một lịch sử gắn với tham vọng nô dịch và thống trị loài người cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong lịch sử, Gia tô giáo thời trung cổ ở châu âu từng là một đại đế quốc, giáo hoàng đứng trên mọi vị vua, giáo lý xếp trên luật pháp. Đại đế quốc ấy từng phát động những cuộc thập tự chinh đẫm máu kinh hoàng, để tiêu diệt một Đại đế quốc khác cũng không kém phần ham hố quyền lực và tham vọng thống trị loài người là Hồi giáo. Người ta sẽ còn nhớ đến rất lâu sự kinh hoàng của những toà án dị giáo mà gia tô giáo dựng ra để tiêu diệt mọi loại tư tưởng trái với tín ngưỡng của mình. Nhiều nhà khoa học lừng danh cũng đã thành mồi cho dàn hoả thiêu. Cho đến khi màn đêm trung cổ được vén lên với kỷ nguyên phục hưng và ánh sáng, nhiều trăm triệu người đã chết vì thứ tôn giáo ham hố quyền lực ấy.

Cũng chính với tham vọng về quyền lực thế quyền, gia tô giáo ở Việt Nam chọn cách nhanh nhất để đạt tới quyền lực bằng cách bắt tay với các lực lượng xâm lăng. Công xá nhận được thật hậu hĩnh. Gia tô giáo đến Việt Nam không một tấc đất cắm dùi, chỉ sau 80 năm ngắn ngủi phục vụ công cuộc chinh phạt thuộc địa của người Pháp, người ta bỗng thấy giáo hội có hàng nghìn cơ sở thờ tự, với ruộng đất của giáo sứ và nhà thờ ngự trị khắp nơi, và thường là những mảnh đất tốt nhất ở địa phương mà nhà thờ đó mọc lên. Với việc gắn kết với chính quyền Ngô Đình Diệm, phục vụ cho người Mỹ, Gia tô giáo được nâng cấp lên một bước mới, duy nhất ở miền nam Việt Nam, nó được gọi là công giáo, hiểu theo nghĩa là giáo lý của công, hay quốc giáo. Và tên gọi đó, còn tồn tại đến tận ngày nay. Một quá trình phát triển ngắn ngủi nhưng lại thật huy hoàng của một tôn giáo phái sinh trong lịch sử dân tộc.

Câu chuyện đòi đất hôm nay của giáo hội công giáo Việt Nam, trên thực tế đã vượt quá xa ranh giới của những tranh chấp đất đai thông thường. Người ta rất ngạc nhiên khi ông Ngô Quang Kiệt khăng khăng đòi lại miếng đất tại phố Lý Quốc Sư, vốn do người Pháp phá chùa Bảo Thiên giao cho công giáo xây nhà thờ với lý do chật hẹp về cơ sở thừa tự. Trong khi giới chức địa phương đã quyết định chuyển diện tích đất ấy sang xây dựng một công viên phục vụ cho lợi ích toàn dân, và thậm chí giới thiệu cho giáo hội công giáo 3 địa điểm với diện tích lớn hơn nhiều để xây dựng các cơ sở thờ tự, nhưng ông Kiệt vẫn không đồng ý. Mục tiêu chính của ông Ngô Quang Kiệt và một số chức sắc công giáo đã quá rõ ràng, đòi đất chỉ là một cái cớ, để kích động tinh thần giáo dân, tập hợp biểu tình nhằm phô trương thanh thế và lực lượng, hậu thuẫn cho tham vọng đạt tới quyền lực thế tục. Có lẽ điều hơn hết ông Ngô Quang Kiệt và một số chức sắc công giáo muốn chứng minh là nhà thờ và giáo lý có thể gây sức ép với chính quyền, thậm chí trèo lên trên luật pháp, nhằm một lần nữa biến công giáo Việt Nam thành một thứ quốc giáo như cách đây 30 năm tại miền nam Việt Nam. Bất kể rằng tham vọng đó có dẫn tới việc bất ổn đối với đời sống xã hội, và bất ổn đối với cuộc sống của chính giáo dân, khi họ phải bỏ công bỏ việc để tập hợp biểu tình phục vụ cho tham vọng của đám chức sắc tôn giáo này.

Có lẽ bài học quá khứ với công giáo Việt Nam đã sớm được quên đi. Ông Ngô Quang Kiệt hình như đã quyên rằng một người công giáo cùng họ với ông, Tổng thống miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm và em trai của mình, vì việc dung dưỡng cho công giáo ngồi lên đầu đại bộ phận dân tộc, thì cả hai ông đều lãnh hai viên đạn vào đầu. Còn bản thân những thế lực mà công giáo Việt Nam từng dựa vào, để có mọi thứ từ quyền lực đến đất đai và tài sản, những thứ mà ngày nay họ đang đi đòi, là các đạo quân viễn chinh xâm lược đến từ Pháp và Mỹ thì cũng đã biến mất khỏi Việt Nam từ thế kỷ trước.
Giới chức Hà Nội hiện tại đã có vẻ mất kiên nhẫn và muốn làm mạnh tay. Có vẻ với lời tuyên bố của ông Ngô Quang Kiệt rằng các nghị quyết của Quốc Hội là không có giá trị pháp lý đã khiến họ cảm thấy bị xúc phạm khi công giáo muốn ngồi xổm lên luật pháp. Và nhất là, khi ông Kiệt với sự hớ hênh và thiếu tầm một cách khó tin với vị trí của một người đứng đầu công giáo tại Hà Nội, khi phát ngôn "tôi cảm thấy nhục khi mang hộ chiếu Việt Nam", khiến một sự phẫn nộ khó kìm chế bùng phát với đại bộ phận 80 triệu người Việt Nam phi công giáo, và thậm chí cả một số tín đồ công giáo cũng không tránh khỏi phải thở dài trước sự thiếu tầm của người chức sắc trong tín ngưỡng của mình.

Trước tình hình bất ổn do một số chức sắc công giáo ham hố quyền lực gây ra gần đây, anh Lãng đã có ý kiến gửi riêng các anh trong Uỷ Ban và bên Bộ Chính Trị, trong đó có nhấn mạnh rằng kiểu hành xử của Ngô Quang Kiệt vừa rồi cho thấy đây chỉ là một gã làm chính trị Amateur dạng Sakashvili cò con thôi, đã không diệt thì thôi, chứ nếu diệt phải diệt cho thẳng tay, tránh để kéo dài ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, và nhất là ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của bà con công giáo. Vì thế trước mắt nên xử lý thật mạnh tay và dứt điểm ngay hai cái yêu cầu vô lối của mấy tay công giáo quá khích đòi đất tại Thái Hà và Lý Quốc Sư. Nay đều đã có chủ trương xây thành công viên phục vụ đời sống nhân dân, bất cứ đứa nào sách động giáo dân bỏ công bỏ việc, làm tổn hại đến đời sống người dân đến tụ tập biểu tình, nắm đầu bắt nhốt hết đám đó ra Côn Đảo, phân loại ra mà xử, rồi nhét chúng nó vào tù cho đám đại bàng nói chuyện. Trong đám đó đứa nào có chứng cớ nhận tiền nước ngoài, xách động biểu tình gây mất ổn định chống phá nhà nước thì cứ xử đúng cái tội phản quốc, nặng thì bắn bỏ thẳng tay. Riêng với bà con công giáo, chính quyền ra một chủ trương tạo mọi điều kiện cho bà con có chỗ cầu nguyện, sinh hoạt tôn giáo lành mạnh. Thành Phố Hà Nội có thể làm gương bằng cách nghiên cứu cấp một miếng đất thật to, quy hoạch hẳn thành một trung tâm thờ tự của công giáo tại Hà Nội, hỗ trợ một phần ngân sách xây cất, rồi mời các vị linh mục ôn hoà, có đạo đức cao như Hồng Y Phạm Minh Mẫn về chủ trì coi sóc đời sống tinh thần cho bà con giáo dân. Làm vậy có thể diệt được tận gốc rễ những kẻ lợi dụng tôn giáo, khích động giáo dân bỏ công bỏ việc gây rối, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo trở lên lành mạnh, đi về đúng bản chất của nó là khiến đời sống tinh thần của tín đồ phong phú và hướng thiện hơn.

Qua câu chuyện nhì nhằng với công giáo lần này, điều cuối cùng anh muốn nói với bày chã, là hãy luôn tin vào chính mình, tin vào năng lực sáng tạo của mình và hãy tin rằng chúng ta chính là chủ nhân cuộc sống của chính chúng ta, và chúng ta vượt trên mọi loài vật vì chúng ta có lòng bác ái. Cuộc đời không phải quá đẹp hay sao khi chúng ta vươn tới thành công bằng tài năng và sự sáng tạo của mình ? Năng lực chinh phục cuộc sống và tính thiện vốn tiềm ẩn trong chính mỗi con người. Thật đáng thương cho những kẻ phải tìm đến những thứ giáo lý mông muội được vẽ ra khi loài người ăn lông ở lỗ, lừa phỉnh loài người về những thứ huyễn hoặc siêu nhiên dạng chúa làm bày lợn bị quỷ nhập đâm đầu xuống nước chết, trái đất do chúa tạo ra và nó đứng im và đủ thứ lý luận lếu láo mà một đứa trẻ con ngày nay được giáo dục đầy đủ khi nghe cũng phải phì cười. Tiếc thay, chã trên đời, tức là bọn ngu si, vẫn còn đông nhung nhúc, khiến những thứ tôn giáo lếu láo vẫn còn nhung nhúc những đám tín đồ, những đám mà ở thế kỷ thứ 21 vẫn còn tin rằng tượng đức mẹ phát quang, chảy nước mắt, nhỏ máu. Sic.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2008

Tôi thấy nhục khi mang cuốn hộ chiếu Việt Nam!

Lịch sử phát triển của tôn giáo thường gắn với một quá trình lâu dài truyền bá đức tin. Đây không phải là một quá trình dễ dàng, vì để thuyết phục đại bộ phận một cộng đồng tin vào một giáo lý nào đó và trở thành tín đồ là điều không đơn giản.

Thiên chúa giáo gia nhập Việt Nam cùng với quá trình giao thương quốc tế, manh nha từ 3 thế kỷ trước. Trong một thời gian dài, sự thâm nhập của thứ tôn giáo này vào Việt Nam chậm chạp và khó khăn. Chỉ đến khi quân đội Pháp và súng ống xâm lược Việt Nam, cùng với những người Kito giáo đi tiên phong, trong vòng 100 năm, đạo giáo này có sức bành trướng ở tầm mức kỷ lục. Tài sản của giáo hội công giáo Việt Nam tăng với một quy mô chưa từng thấy dưới thời Việt Nam bị đô hộ và mất độc lập, trong một thời gian ngắn ngủi chưa đến 100 năm.
Là một tôn giáo ngoại lai, không có gì ngạc nhiên khi Kito giáo Việt Nam, nói cách khác là Công giáo lại luôn có xu hướng gắn kết và phục vụ cho những thế lực bên ngoài. Trong các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam, chống lại người Pháp và người Mỹ, có thể nói, Công giáo Việt Nam luôn đồng hành với cả hai đạo quân xâm lược đến từ bên ngoài này.
Sau năm 75, cùng với sự rời bỏ của các đạo quân xâm lược, Công giáo Việt Nam trở lên lặng lẽ vì mất đi các thế lực đỡ đầu. Nhiều quyền lợi của giáo hội công giáo Việt Nam có được nhờ các thành tích phục vụ ngoại xâm lần lượt bị tước bỏ. Những vấn đề thuộc về lịch sử đáng ra nên được để trôi qua, nhất là khi nó gợi nhớ lại một quá khứ đáng buồn về một thứ tôn giáo phản bội dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ một số chức sắc giáo hội công giáo Việt Nam hiện nay lại không cho là thế.

Đằng sau các sự kiện khá ồn ào về phong trào đòi lại đất đai bị tịch thu của giáo hội công giáo Việt Nam thời gian gần đây, có thể thấy rõ sự việc không chỉ đơn thuần là như vậy. Tham vọng sâu xa của các chức sắc công giáo ở Việt Nam, điển hình là Tổng Giám Mục giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt có lẽ không chỉ nằm ở việc đòi lại số đất đai có được nhờ chính quyền thực dân trước đây và nay đã bị quốc hữu hoá. Từ những động thái như tập hợp giáo dân biểu tình, một số thậm chí có những hành động quá khích (đập phá tài sản công) và huy động cả số tín đồ là trẻ em tham gia, thấy rõ rằng đây không còn là một vụ tranh chấp đất đai thuần tuý. Có lẽ giới lãnh đạo giáo hội công giáo Việt Nam đang muốn một lần nữa khẳng định thế lực chính trị của thứ tôn giáo này, bằng việc chứng minh rằng có khả năng gây sức ép và mặc cả với chính quyền và tiến tới khẳng định vị thế của nó như một thế lực có khả năng đối kháng với quyền lực của pháp luật và thiết chế nhà nước. Có lẽ hơn bao giờ hết, giáo hội công giáo lại một lần nữa muốn trở thành "Công Giáo" như nó đã từng là dưới thời chế độ Ngô Đình Diệm tại miền nam trước năm 1975.

Có thể thấy rằng một số chức sắc giáo hội công giáo, điển hình là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã đi quá xa. Những lời phát ngôn của TGM Kiệt trong buổi làm việc với giới chức địa phương, theo đó TGM Kiệt phủ nhận tính pháp lý của những văn bản pháp quy được ban hành bởi cơ quan lập hiến và lập pháp của Việt Nam là Quốc Hội khiến người ta có một ấn tượng rõ là có lẽ với một số lãnh đạo giáo hội công giáo Việt Nam, pháp luật không là gì mà chỉ có quyền lợi của giáo hội mới là quan trọng. Tôn giáo ngự trị trên luật pháp, có lẽ TGM Kiệt và nhiều đồng sự của mình muốn Việt Nam trở thành một thứ tương tự như Châu Âu vào thời kỳ trung cổ, khi mà Thiên chúa giáo ngự trị và đứng trên luật pháp của mọi quốc gia.

Lịch sử và sự văn minh của nhân loại là một quá trình đi lên và không thể đảo ngược. Cùng với trình độ dân trí ngày càng tăng, ảnh hưởng của những thứ tôn giáo muốn thuyết phục tín đồ vào những thứ đức tin mang tính ngu dân sẽ ngày càng mai một đi. Những vấn đề của Thiên chúa giáo trên thế giới và công giáo Việt Nam ngày hôm nay rồi cũng sẽ trôi qua, nhưng Tổng Giám Mục giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt thì đã tạo cơ hội cho mình có một chỗ đứng vững chắc (nhưng đáng tiếc là không kém phần nhục nhã) trong lịch sử với lời tuyên ngôn: "Tôi cảm thấy nhục nhã khi cầm cuốn hộ chiếu Việt Nam"

Công giáo Việt Nam có nhiều cái nhất. Năm 1954, linh mục Hoàng Quỳnh giáo phận Bùi Chu, Phát Diệm đi vào lịch sử với lời tuyên ngôn "Thà mất nước còn hơn mất chúa". Rất ít người Việt Nam cho rằng câu nói của linh mục Hoàng Quỳnh là phải đạo, vì vậy mà có nhiều triệu người Việt Nam đã đổ máu để giành lại một Việt Nam độc lập và thống nhất trong những cuộc chiến tranh liên tiếp kéo dài vài chục năm. Tuy nhiên, quý ngài Quỳnh hôm nay có thể ngậm cười vì đã có một người kế tục rất xứng đáng là quý ngài Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Với tham vọng chính trị khá lộ liễu, với xu hướng vọng ngoại và chối bỏ nguồn gốc và nhất là với cái ý thức muốn ngồi xổm lên luật pháp của một số lãnh đạo giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, có lẽ đã quá rõ ràng để thấy một sợi chỉ xuyên suốt của vấn đề. Người ta cần đặt ra một câu hỏi: Dựa vào niềm tin nào mà TGM Ngô Quang Kiệt và một số chức sắc giáo hội công giáo khác có đủ dũng khí để có những hành động như thời gian vừa qua? Niềm tin vào chúa chăng? Đó chỉ là một cách nói khôi hài mang tính mị dân giành cho đám tín đồ ít học và mê muội.

Có lẽ rồi đây TGM Kiệt và giáo hội công giáo Việt Nam sẽ chẳng thấy vui vẻ gì nếu các nguồn thu tài chính và các khoản chi của họ bị điều tra và giám sát, và đặc biệt là những nguồn tài chính gắn với các thế lực nước ngoài. Thật đáng buồn cho một thứ tôn giáo, đáng ra nên hướng con người vào những niềm tin mang tính khuyến thiện và đạo đức, thì lại đang cố gắng muốn đạt tới tham vọng hướng tới quyền lực thế quyền, khiến cho nó trở lên quá nhiều tai tiếng.

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2008

Đôi lời về Lãng's Blog

Khi viết một bài trên mạng, đôi khi mỗi chúng ta sẽ phải tự hỏi, viết để làm gì?

Với anh Lãng, hay nói đúng hơn với nick Lãng, mạng chỉ thuần tuý là một nơi để giải trí, không hơn không kém. Điều khẳng định này tất nhiên không áp dụng cho con người thực ẩn đằng sau cái nick Lãng vô thưởng vô phạt đó. Lãng là một nick ảo, vĩnh viễn ẩn danh, và người ẩn đằng sau nó, chỉ coi đây là cách để đùa với mọi vấn đề trong cuộc sống.

Gần đây có một vài cá nhân, có lẽ cũng thuộc dạng thích đùa, nên đăng ký nick Lãng ở nhiều forum khác nhau và tự nhận rằng đó chính là nick Lãng tại diễn đàn Tathy, nơi mà trước giờ anh các chú vẫn thường đùa cợt. Dù rằng việc đó xét cho cùng cũng chẳng có vấn đề gì, dẫu sao cứ coi đó là một trò đùa. Tuy nhiên, anh quyết định rút khỏi mọi forum, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc.

Với những bạn độc giả tình cờ đi lạc vào đây, điều đầu tiên các bạn phải biết, là anh Lãng đéo cần các bạn. Điều thứ hai các bạn cần biết giúp anh, khi anh viết về bất cứ vấn đề gì, từ chính trị, kinh tế, xã hội hay nhân sinh, là anh viết chỉ để mà đùa. Việc các bạn nhìn nhận thấy ở đó một vài trò vui giải trí, hoặc chiêm nghiệm ra từ những bài viết ấy một vài suy luận nghiêm túc, tất cả đều là tuỳ ở sự nhận thức của các bạn, anh không liên quan gì đến chuyện đó. Việc của anh là viết để đùa, như một thú vui, còn các bạn nhìn nhận những bài viết ấy thế nào là việc của các bạn. Trên cơ sở ấy, hình thành một quy tắc có lính logic tất yếu để giới hạn hành vi của các bạn: "Đây là blog của anh, anh đéo cần các bạn, nên khi các bạn định comment hay bi bô bất cứ thứ gì ở đây, đều có thể dễ dàng bị anh xoá không thương tiếc, hoặc đưa các bạn vào danh sách refuse không cần báo trước". Vì vậy, các bạn nên hết sức cân nhắc trước khi định viết bất cứ dòng nào trong blog của anh.

Về cơ bản thì các bạn nên thông minh một chút, lý do anh rất ghét lũ ngu si. Tiêu chuẩn thế nào là ngu si thì rất đáng buồn cho các bạn, ở đây, tại blog này, nó nằm ngoài sự phán đoán và ý chí chủ quan của các bạn. Nó do anh Lãng đặt ra. Theo kinh nghiệm đùa cợt lâu năm của anh, thì tỷ lệ bọn ngu si, tức là bọn chã ngố chã ngọng vốn hết sức cao. Anh khuyến cáo bạn nào vốn tự cảm nhận được mình thuộc vào cái diện chã ngố chã ngọng ấy thì nên tự động cút cụ các bạn đi, để khỏi làm bẩn blog của anh.

Anh viết vài lời, để các bạn biết quy tắc đùa của anh