Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Trung Đông và diện mạo một thế giới mới

Thế giới này thật kỳ lạ. Có đôi khi những sự kiện xảy ra bất chấp mọi dự đoán của những chiến lược gia thiên tài. Có lẽ đó chính là điều khiến sự sinh tồn của con người vừa bấp bênh lại vừa hấp dẫn, khi cơ hội, sự rủi ro và những điều bất định vẫn có thể thường xuyên xuất hiện trên thế giới này.

Những ngày này toàn thế giới đang dõi mắt về Trung Đông, nơi mà những chính phủ với những nhà lãnh đạo nổi tiếng cứng rắn từng vững tay chèo hàng vài thập kỷ. Mới hôm trước họ và những người thân thuộc còn là những kẻ đứng trên đỉnh uy quyền, ngày hôm sau đã là đám lưu vong vô tổ quốc, bị nguyền rủa ở chính quê hương và bị khinh ghét trong tư cách những kẻ độc tài, ham hố quyền lực, vơ vét tài sản quốc gia và đốn mạt.

Từ một sự kiện gần như chẳng mấy để các vị lãnh đạo quốc gia quan tâm, một vụ tự thiêu nhỏ nhoi của một chàng sinh viên tốt nghiệp tại một miền đất cũng không mấy đáng chú ý trên bản đồ thế giới, vốn được ngự trị trong trật tự xếp đặt của các cường quốc lớn, bỗng chốc một lò lửa khổng lồ lan rộng khắp Trung Đông. Lần lượt các chính phủ từng ngự trị vài thập niên tại Tunisie, Ai Cập nối nhau sụp đổ. Cơn địa chấn rung chuyển khắp thế giới. Lò lửa lan nhanh sang các quốc gia lân cận. Khói lửa bùng cháy tại Bharain, Iran, Iraq và đặc biệt dữ dội tại Libya. Những nhà lãnh đạo quốc gia vốn ngự trị trên đỉnh cao quyền lực, bỗng chốc trở thành những kẻ lưu vong bị phỉ nhổ bởi chính dân tộc mình. Mumbarak, Ben Ali và rồi rất có thể tới đây là Gadafi đang cùng phải gánh chịu số phận nghiệt ngã mà lịch sử phán quyết cho những nhà độc tài có bàn tay đẫm máu, mà thời gian cai trị kéo dài gắn liền với sự thoái hóa đạo đức và bóp cổ dân đen. Tài sản của họ và gia tộc đang bị phong tỏa trên khắp thế giới, và trở thành những kẻ lạc loài trong mắt những người đồng chủng tộc. Cái giá phải trả đầy cay đắng mà đáng ra họ đã có thể tránh được.

Cách đây dăm tháng, không ai chờ đợi và hình dung được những gì đang xảy ra tại Trung Đông lại có thể trở thành sự thật. Phần lớn những quốc gia này đều giàu tài nguyên, có nền kinh tế phát triển thuộc vào nhóm trung bình khá trên thế giới. Thu nhập quốc dân tính trên đầu người hoàn toàn không thấp. Và điều giống nhau là, hầu hết các quốc gia này đều được cai trị bởi những nhà lãnh đạo độc đoán trong suốt nhiều năm ròng. Được coi là những chế độ có độ ổn định cao và khét tiếng với chính sách cai trị bàn tay sắt. Đã từ lâu, thế giới Arap không được coi là nơi mà niềm khát vọng tự do mãnh liệt, bởi bản thân hồi giáo vốn là một thứ giáo lý có tính độc đoán một cách tự nhiên. Vậy mà ngạc nhiên thay, đó lại chính là nơi mà những lò lửa đòi hỏi sự ra đi của những chế độ độc tài đang bùng cháy dữ dội nhất.

Những nguyên nhân dẫn đến làn sóng dữ dội của người dân tại Tunisia, Ai Cập, Iraq, Iran, Bharain, Libya ... đều khá rõ ràng: Nền cai trị độc tài, nạn tham nhũng hoành hành, sự bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội và đặc biệt là nạn lạm phát cộng với tỉ lệ thất nghiệp cao trong những thành phần trẻ tuổi. Từ một đốm lửa nhỏ, đám đông quần chúng sát cánh với nhau thành một lò lửa dữ dội. Súng ống và bạo lực đã được các nhà độc tài sử dụng tối đa. Máu đổ và nhiều người đã chết. Người ta chứng kiến sự sụp đổ từ bên trong một cách nhanh chóng của các nền cai trị độc tài, khi bạo lực không những không đè bẹp mà chỉ làm khát vọng tự do của đám đông thức tỉnh càng mạnh mẽ hơn.

Một cách tỉnh táo, phải nhìn nhận rằng vai trò của Mỹ trong những sự kiện tại Tunisia và Ai Cập là khá đậm nét. Nhưng những gì đang diễn ra tại Libya thì lại là điều mà cả thế giới đều bất ngờ, gồm cả nước Mỹ. Được kích thích bởi niềm khao khát tự do đạt tới thành công tại Ai Cập và Tunisia, người dân Libya cũng chợt trở lên bừng tỉnh. Gadafi và gia tộc đang vật lộn trong cơn động đất. Súng máy, pháo hạng nặng và máy bay oanh tạc đều đã được ông ta dùng đến để chống lại chính dân tộc mình. Chế độ Gadafi đang hấp hối từ bên trong, khi giờ đây ông ta phải sử dụng những đội quân đánh thuê để bắn giết chính người Libya. Bất chấp kết quả cuối cùng thế nào, Gadafi chắc chắn vĩnh viễn không còn chỗ đứng trong lòng người dân Libya, và cố nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với chế độ của ông ta đang ở những ngày tận số.

Hầu hết các nước có nền cai trị mang hơi hướng độc tài tại Trung Đông đều đang nín thở. Cơn rùng mình ớn lạnh còn lan sang cả Á Châu, nơi mà nhiều nền độc tài toàn trị đã ngự trị ngót dăm sáu thập niên. Người ta đang tự hỏi, cuộc cách mạng đang diễn ra tại Trung Đông đang gửi thông điệp gì cho nhân loại vào đầu thế kỷ 21 này? Nếu thế kỷ 20 được coi là thế kỷ chấm dứt của thời kỳ thuộc địa, có lẽ thế kỷ 21 cũng sẽ là thời kỳ chấm dứt của những nền cai trị độc tài. Mọi sự thay đổi trật tự lịch sử đều không dễ dàng, sẽ có máu, bạo lực và đôi khi là những cuộc chiến tàn bạo, nhưng cũng sẽ là những điều không thể đảo ngược.

Sự tồn tại của mọi nền cai trị độc tài, đều đang được đo bằng một chiếc đồng hồ đếm ngược.

Có một lời nhận định của một thằng Tàu Khựa là Lưu Á Châu mà anh Lãng khá tâm đắc "Nền văn minh Mỹ dù có đặt một thằng cực ngu lên nắm quyền, nó cũng không gây được mấy tổn hại cho cái đất nước ấy, còn với nền cai trị Trung Hoa, sự thịnh vượng phụ thuộc rất lớn vào sự sáng suốt của người đứng đầu. Nó có thể may mắn có được những nhà lãnh đạo tài giỏi trong 10, 20 thậm chí 30 năm, nhưng sự thông thái đó không thể luôn kéo dài vĩnh viễn. Và tương lai của một dân tộc không thể đặt cược vào một canh bạc phụ thuộc quá lớn vào trí tuệ kéo dài của một nền độc tài, sớm muộn gì cũng sẽ có một thằng ngu lên nắm quyền và cố nhiên sẽ kéo theo sự sụp đổ của cả một đất nước". Thằng Khựa này có tầm nhìn xa, trừ câu cuối cùng, sự sụp đổ có thể chỉ là của một chế độ cai trị chứ không phải là của một đất nước.

Nhìn sang tình hình Thái Lan, với làn sóng biến động chính trị suốt 4 năm qua cũng cho thấy đâu là thực tiễn vấn đề. Bất chấp các làn sóng chính trị của phe áo đỏ hay áo vàng, mà có nhiều lúc làm tê liệt toàn bộ hệ thống chính trị Thái Lan, cái đất nước ấy vẫn đạt được tốc độ phát triển đầy ấn tượng và người dân vẫn giàu có lên từng ngày trong suốt những năm qua. Phải chăng người Thái cũng đang được tưởng thưởng vì có một nền văn minh đã trải qua thử thách?

Ngày hôm nay của Mubarak, Ben Ali ... cũng sẽ là ngày mai của nhiều nền cai trị độc tài khác trên thế giới. Điều duy nhất chúng ta nên mong mỏi, là một sự thức tỉnh của những nền cai trị, bởi nếu không sớm muộn gì cũng sẽ có máu đổ và cái giá phải trả là đắt đỏ. Những nhà độc tài bị lật đổ và con cháu giờ đây đang bị phong tỏa tài sản, sống lưu vong và rồi chắc chắn sẽ phải đối mặt với những phiên tòa xét xử cho những tội ác đẫm máu của họ trong lúc cầm quyền.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Hải đăng Nguyễn Chí Vịnh

Cuối năm bận rộn, hơn nữa tình hình cơ bản không có nhiều sự kiện nổi bật đáng để anh Lãng có nhã hứng nên anh không viết cái gì. Tuy nhiên hôm nay lét mắt ngó trang tuanvietnam, thấy có đăng bài phỏng vấn Hải đăng Nguyễn Chí Vịnh, quả thật thấy có nhiều điểm đáng để bàn luận.

link bài phỏng vấn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-08-khong-de-nuoc-khac-thoa-hiep-tren-lung-minh-

Nguyễn Chí Vịnh là một cái tên gây nhiều chú ý và tranh cãi trong mấy năm gần đây. Được coi là một bố già đầy quyền lực thời nắm trong tay tổng cục 2, với những thông tin nội bộ có thể làm méo mặt hầu hết giới tai to mặt lớn Việt Nam, khi nhắc đến Nguyễn Chí Vịnh, hầu hết đều có sự e dè và phần nào sợ hãi. Nhiều thông tin không được kiểm chứng trên internet, còn đề cập đến vai trò nổi trội của ông ta trong các vụ đấu đá quyền lực hậu trường, khiến nhiều thế lực chính trị thất điên bát đảo, thậm chí, còn có cả can dự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu coi chính trị là một trò chơi quyền lực, sự đấu đá giữa các phe cánh là một tất yếu. Anh Lãng từng đưa ra nhận xét: Đấu đá phe cánh là một hiện tượng tốt đối với sự phát triển của Việt Nam, miễn nó được khống chế trong một chừng mực hợp lý. Không gì tồi tệ hơn bằng một thể chế cai trị độc tài có tính thống nhất cao, bởi lúc đó các thành viên thống trị đoàn kết và bóp cổ dân đen sẽ ở mức đáng sợ nhất. Chỉ khi chính bộ máy ấy có sự xung đột nội tại, các thế lực khi đấu đá nhau mới cần lôi kéo thêm hậu thuẫn, khi đó, họ mới tính đến lợi ích dân đen với tư cách một lực lượng cần lôi kéo chứ không phải đơn thuần bóc lột. Những năm qua ở Việt Nam, mỗi đợt đấu đá quyền lực, người ta lại thấy tiếng nói dân chúng được lắng nghe hơn và quyền lợi đám đông được cải thiện hơn. Đây là một điểm sáng của nền chính trị độc đoán nhưng phân cực ở Việt Nam.

Là con của cố đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một công thần chế độ, con đường hoạn lộ của Hải đăng Nguyễn Chí Vịnh khá thuận buồm xuôi gió. Trong hai năm trở lại đây, được thăng hàm Trung tướng và nhậm chức thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, nhiều người, trong đó có anh, cho rằng việc tăng chức để điều tướng Vịnh khỏi tổng cục 2, trên thực tế là một cách giảm bớt mối uy hiếp và quyền lực của nhân vật chính trị này. Với nền chính trị mà hầu hết các quan chức cấp cao đều có tài sản, hoặc con cái, họ hàng giàu có như ở Việt Nam, thì việc một người nắm quyền lâu năm ở một cơ quan chuyên về thông tin mật như tổng cục 2 là một mối đe dọa trực tiếp. Tướng Vịnh, do đó, là một người gây tranh cãi.

Quan sát những gì ông thể hiện ra trong hai năm gần đây, kể từ khi lộ diện khỏi bóng tối quyền lực, phải thừa nhận rằng ông ta có phẩm chất của cha mình, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một người có nhãn quan chính trị rất xa, tài hùng biện xuất sắc và may mắn thay, gồm cả lòng yêu nước. Trong một bài viết từng đề cập đến tướng Vịnh, anh Lãng từng nêu nhận xét này, và đến giờ, anh tin mình đúng. Bất chấp ông Vịnh là một người gây tranh cãi ra sao trong các màn đấu đá quyền lực hậu trường, nhưng phải khẳng định đây là một nhân vật có tầm nhìn sắc sảo, và tài hùng biện ít ai bằng. Hơn nữa, có lẽ chịu ảnh hưởng từ người cha, tướng Vịnh thể hiện lập trường mềm dẻo nhưng rất kiên quyết về chủ quyền lãnh thổ. Lợi ích quốc gia của Việt Nam, sẽ được đảm bảo hơn khi có nhiều nhân vật như tướng Nguyễn Chí Vịnh trong hệ thống quyền lực.

Con đường hoạn lộ của Hải đăng Vịnh đến nay vẫn là một ẩn số. Một mặt phải thừa nhận quyền lực rất thực tiễn mà tướng Vịnh đã (và có lẽ) vẫn đang nắm trong tay khi ông ta từng phụ trách tổng cục 2 trong một thời gian rất dài, và đứng sau một loạt vụ đấu đá quyền lực trong nội bộ hệ thống cầm quyền. Hơn nữa, trong cương vị thứ trưởng bộ quốc phòng, tướng Vịnh thể hiện một năng lực ít ai ngờ thông qua các hoạt động ngoại giao quốc phòng, và một phong cách đầy bản lĩnh khi trả lời các cuộc phỏng vấn. Thành công của nền ngoại giao quốc phòng Việt Nam trong năm 2010, có đóng góp quan trong của tướng Vịnh. Tuy nhiên, khi bước gần tới đỉnh chóp của hệ thống quyền lực, thì thâm niên chính trị của tướng Vịnh vẫn chưa đủ mức để có thể nhìn tới những vị trí cao hơn, đại loại Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng hay tương tự thế. Ít nhất, trước mắt tướng Vịnh cần được cơ cấu vào Trung ương hay là thành phần của Bộ Chính Trị, mà điều đó, vẫn còn là ẩn số.

Cá nhân anh tin rằng tướng Vịnh rất có năng lực trong đấu tranh quyền lực. Ông ta sẽ còn tiến xa. Hơn nữa, tài hùng biện và nhãn quan chính trị của tướng Vịnh khiến anh có cảm giác tìm được tri âm. Đối với nền chính trị còn lâu mới đạt tới ngưỡng cửa dân chủ như ở Việt Nam, thì việc những nhân vật như tướng Vịnh tham gia hệ thống quyền lực, mang lại lợi ích cho đất nước nhiều hơn, và cần đến những người như vậy.

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Chính trị và quyền lợi số đông

Nhân có ý kiến của một bạn thắc mắc về một bài viết gần đây của anh liên quan đến tình hình Việt Nam, trong đó có câu hỏi, tại sao, Dũng bạn thân anh nhiều sai lầm thế, nhưng anh Lãng lại cho rằng bạn anh nên tiếp tục tại vị trong hàng ngũ cầm quyền tối cao? Phải chăng anh Lãng tiền hậu bất nhất, và chồng chéo nhau về những giải pháp?

Đây là một câu hỏi đúng, nhưng ngây thơ. Nó phù hợp cho những người còn ít va chạm với những tồn tại đích thực trong cuộc sống. Không phải tự nhiên mà Bill Gates đưa ra lời nhận định đầy triết lý: "Cuộc sống ai cũng mong muốn những điều tốt và loại bỏ những điều xấu xa, nhưng người ta cần học cả cách chấp nhận và sống chung với cái xấu xa ấy nữa”. Bản thân cuộc sống không phải là những mệnh đề toán học, nơi logic ngự trị tuyệt đối và có những tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là một định đề đúng hoặc sai. Chính trị, bản chất của nó là nghệ thuật nô dịch và cai trị con người, càng không có chỗ cho những khái niệm đúng hay sai tuyệt đối.
Một bạn thân của anh, bố già Lý Quang Diệu của Singapore, một elite man của châu Á, cảm thán lúc cuối đời : “Không phải mọi điều tôi làm đều đúng và tốt đẹp. Tôi từng đưa ra những quyết định xấu xa, thậm chí là vi hiến, khi từng cầm tù những người bạn bè quen mà không qua xét xử. Nhưng những điều tôi làm, đều để nhắm tới những mục tiêu cao cả”. Lý là một chính trị gia hết sức thành công, một lãnh tụ của người dân Singapore, và thực sự là cha già của quốc đảo này, Lý đã dùng cả cuộc đời mình để chứng minh thực tiễn rằng Lý và cộng sự luôn sống để cống hiến cho lợi ích quốc gia. Nhưng cuộc đời của Lý cũng có không ít khoảng đen, những điều xấu mà Lý buộc phải làm. Đơn giả bởi đó là cuộc đời, chúng không phải những tiêu chuẩn đạo lý theo sách vở. 

Cái xấu, trong chính trị, do đó tồn tại vô cùng phổ biến. Những ngôn từ cao đẹp, với những giá trị đẹp đẽ và những viễn cảnh huy hoàng, thường đều là những thủ đoạn mị dân dùng để tuyên truyền và lừa bịp đám dân đen ngu dốt. 

Chính trị Việt Nam, do đặc điểm thể chế của nó, đã làm băng hoại tài năng và thoái hóa về đạo đức. Tham nhũng giờ đây là một căn bệnh ăn sâu vào bộ máy từ thấp tới cao, nguồn thu nhập chủ yếu của công chức tại vị hầu hết đều đến từ ngoài đồng lương chính thức. Trên con thuyền của những kẻ cầm quyền, đều chất đầy những kẻ dựa vào quyền lực để vơ vét tài sản cá nhân, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hệ thống công ty sân sau, của con em, hay các thành phần thân hữu. Lấy đâu ra một chính trị gia có tâm có đức trong bối cảnh ấy? Thậm chí ngay cả nếu thành phần ấy mà có tồn tại, thì cũng sẽ bị những kẻ khác trên con tàu quyền lực ném xuống biển vì dám chơi trái với lệ chung. Đây là một bức tranh toàn cảnh, một thực trạng mà xã hội phải thừa nhận, thậm chí chấp nhận. 

Một số thằng ngu thường hô hào rằng, thể chế tồi tệ đến thế, cần đập bỏ nó đi và xây dựng một thể chế mới. Nghe rất có lý nếu đối chiếu với những tiêu chí đúng sai giấy lộn, nhưng đầy ngu ngốc vì chúng ta đang đề cập đến một vấn đề ảnh hưởng tới cuộc sống của gần 100 triệu con người, trong đó, có những quyền lợi thuộc về cái sống và cái chết. 

Chúng ta luôn muốn xã hội tốt lên, nhưng phải có đủ tầm nhìn xa, và đủ sự thông thái để hiểu rằng một xã hội tốt ngay là điều bất khả. Thậm chí phải đủ kiên nhẫn để học cách sống chung với những thứ xấu xa, cải biến nó dần dần để hướng tới một tương lai tốt đẹp.

Đấu đá trong Bộ chính trị  Việt Nam giữa các bạn anh chỉ là một phần nhỏ của vấn đề. Nếu các bạn cũng có cùng tầm nhìn như anh, các bạn sẽ thấy rằng những mục tiêu mà những người sáng suốt ủng hộ không nhằm hướng tới một cái đúng hay cái sai tuyệt đối về lý thuyết, mà là nhắm tới những giải pháp có thể thực thi và cải thiện quyền lợi số đông.
 
Các bạn cho rằng có thể và nên loại bỏ một nhân vật chính trị đầy quyền lực khỏi hệ thống chăng? Đặt ra câu hỏi này, đã là một sự ngu đần. Bởi đơn giản đó là điều bất khả. Chính trị Việt Nam chưa có điều kiện và chưa đủ trưởng thành để làm được những điều như vậy. Cuộc đấu giữa những kẻ đang nắm quyền khi bị dồn tới chân tường, có thể gây những tổn hại sâu sắc đến tính ổn định quốc gia, và sự thiệt thòi tất nhiên không bao giờ ở phần của những kẻ mà gia tài đã đủ giàu để thoát khỏi mọi biến cố. Thiệt thòi, luôn thuộc về đám dân đen. Cố nhiên còn một loại người nữa, giống như anh, cũng sẽ chẳng bao giờ thua thiệt vì đó là một thứ người có đủ thủ đoạn, đểu giả và đủ tài năng để tồn tại ăn trên ngồi chốc trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta đang tư duy theo cách duy trì lợi ích số đông, chứ không phải bàn đến những mục tiêu lý thuyết, đẹp, nhưng ảo tưởng.
Thay vì việc đưa ra những đề nghị mang tính phá hoại, hãy biết kiên nhẫn chấp nhận cái xấu và đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn hơn. Nói đúng hơn, là những giải pháp có thể nâng cao lợi ích dân đen, nhưng, điều kiện tiên quyết là, giải pháp ấy phải có tính khả thi, tức là nó có điều kiện để làm được trên thực tế. 

Anh ủng hộ Dũng bạn thân anh lên vị trí chủ tịch nước. Đơn giản, bởi trước hết, muốn loại bạn anh khỏi hàng ngũ tối cao là điều không thể. Bạn anh có đủ thế lực gây tổn thương đến mọi đối thủ, bởi các đối thủ này điểm xấu cũng chẳng mấy kém gì bạn thân anh. Hơn nữa, bạn anh chứng minh được khả năng trong lĩnh vực ngoại giao chính trị, qua những thành tựu có tính đột phá Việt Nam có được trong câu chuyện ở Biển Đông và quan hệ với các cường quốc cựu thù. Dũng tại vị ở hàng ngũ lãnh đạo tối cao sẽ là điều cần thiết để đảm bảo tính xuyên suốt của các cam kết quốc tế mà Dũng có tham gia với vai trò quan trọng. 

Anh Lãng chỉ bàn đến những gì có tính thực tiễn, chứ không bàn đến những câu chuyện thuộc về ảo tưởng. 
Sẽ phải mất một thời gian dài để xã hội Việt Nam trưởng thành, có một hệ thống chính trị vì con người nhiều hơn. Trong thời gian ấy, cần học cách chấp nhận với những thứ xấu xa. Miễn sao, các bạn, nghĩa là bọn con bò, luôn không buông xuôi. 

Anh chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc, đó là đại bộ phận người dân Việt Nam, một ngày nào đó đều có đủ tầm nhìn và tri thức, để là một con người tự chủ như anh, nghĩa là đều mang tầm lãnh tụ. Bởi lúc đó, cũng là lúc Việt Nam ngồi ngang hàng với mọi cường quốc. Nhưng cũng giống như câu chuyện đúng sai trong chính trị, đó là một mong muốn bất khả thi trong hiện tại và một tương lai còn xa. Các bạn cần học cách sống chung với anh, và anh cũng cần học cách sống chung với một bọn con bò mà thực lòng anh luôn quý mến

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Triều Tiên và bất ổn Đông Á

Vài bạn kêu gào anh Lãng cho ý kiến chỉ đạo về tình hình Triều Tiên. Việc dân việc nước bộn bề, anh nêu dăm ý kiến ngắn như sau:

Các bạn đánh giá vấn đề cần có độ tỉnh táo và lạnh lùng mà phân tích. Vài trăm phát pháo Bắc Hàn nã chẳng qua chỉ là vấn đề nội bộ của bố con họ Kim. Giải pháp gây căng thẳng biên giới để kiểm soát nội bộ của Kim con trong tiến trình chuyển giao quyền lực là một trò đùa mạo hiểm, nhưng không đủ gây chiến tranh. Ở đây Kim con đang muốn tái hiện hình ảnh của Kim ông nội, bằng cách coi các hành động gây hấn tấn công lực lượng Nam Hàn như những "chiến công" cho sự nghiệp củng cố quyền lực cai trị tại Bắc Triều Tiên. Làm đại tướng thì ít nhất cũng cần dăm "chiến tích". Đây là lý do thực của những diễn biến căng thẳng tại Triều Tiên hiện nay. Tình hình này sẽ tiếp tục dẫn đến can dự mạnh hơn của Mỹ vào khu vực. Nhật sẽ đẩy mạnh quá trình tái vũ trang.

Ở phía bên kia của nền văn minh, những nước có quyền lợi liên quan trực tiếp nhất đến bán đảo Triều Tiên là Nhật, Mỹ, Hàn. Một điểm chung là các nước này giàu, quý trọng sự sống, và hiểu rằng họ đang phải đối phó với một thằng khùng có trong tay vũ khí hạch tâm. Phản ứng của Mỹ, Hàn do đó sẽ ở mức kiên quyết nhưng có giới hạn và kiềm chế.


Ở phía bóng tối của sự nghèo đói, mặt khác, triều đình của Kim bố, Kim con hiện tại cũng không phải là những thằng đần, dù rằng chính thể Triều Tiên hiện tại vẫn đang thành công trong nỗ lực ngu hóa và làm thoái hóa giống nòi người dân sống tại Bắc Triều Tiên. Là vua một nước thì bất kể dân chết đói hàng ngày, vua vẫn sống trong nhung lụa. Triều Tiên nhiều sâm, gái chịu khó tuyển thì cũng lắm đứa ngon, do đó, các bạn phải hiểu Kim bố, Kim con còn yêu đời và mong sống lâu lắm. Do đó, bản thân Kim con cũng sẽ tự biết đâu là giới hạn còn chấp nhận được để duy trì mạng sống của mình. Một cuộc chiến Triều Tiên tổng lực xảy ra, anh tin chắc bố con nhà Kim hiểu rõ họ sẽ không có cơ hội dùng đến vũ khí nguyên tử, bởi nếu Mỹ, Hàn bị ép vào thế buộc phải ra tay, đòn tấn công sẽ là triệt hạ hủy diệt trước khi Kim có khả năng giộng nguyên tử vào Mỹ và đồng minh của nó.

Thật ra khi quan sát tình hình Triều Tiên, anh từng đặt ra câu hỏi: Liệu có khả năng Kim con hiện đang chịu sự chống phá mạnh từ bên trong, và có thể những sự kiện như chìm tàu Chongnan hay pháo kích Nam Hàn là những diễn biến nằm ngoài tầm kiểm soát của Kim con, do thế lực nội bộ chống đối bên trong muốn gây rối loạn Bắc TT và lật đổ triều đình họ Kim. Đây sẽ không phải là một sự phỏng đoán nếu hiện tại Kim bố đang nguy kịch, thoi thóp và chờ ngày chết. Nhưng sự thực là Kim bố vẫn có khả năng ngọ ngoậy, và với kinh nghiệm cai trị 30 năm tại Bắc TT thì chắc chắn quyền lực vẫn nằm tuyệt đối dưới sự khống chế của họ Kim. Giả thuyết này, vì thế không có cơ sở thực tiễn.

Diễn biến tại Triều Tiên, do đó, tất yếu sẽ nằm trong khuôn khổ của những phản ứng hạn chế, khi những người trong cuộc đều biết đâu là giới hạn của vấn đề.Chiến tranh thế giới đéo nào ở đây?
Điều tích cực của tình hình là biến chuyển khu vực tiếp tục có lợi cho Việt Nam. Niềm hy vọng của dân Nam Hàn vào đám dân đồng chủng tộc nhưng đã được ngu hóa gần triệt để trong 50 năm qua sẽ ngày một ít đi. Đầu tư của Hàn do đó sẽ ít có hy vọng hướng vào miền Bắc. Do đó, luồng vốn này sẽ tiếp tục đổ về Đông Nam Á, mà Việt Nam hiện cũng có những lợi thế cạnh tranh. 

Đông Á bất ổn, khiến sức chú ý của Mỹ và đồng minh càng tập trung hơn vào khu vực. Quan hệ giữa Mỹ, Nhật, Hàn sẽ được đẩy lên một nấc mới. Trong viễn cảnh sống chung với Bắc Hàn, cả Nhật, Hàn đều thấy sự sinh tồn của họ gắn liền với Mỹ. Điều này càng khiến Trung Quốc chịu áp lực mạnh trong tương lai.
Mặt khác thì Nhật Bản chắc chắn sẽ tiếp tục đẩy mạnh tái vũ trang. Trước hết là để duy trì sức mạnh răn đe vì dù sao Nhật cũng không thể phó mặc sinh mệnh sinh tồn cho Mỹ. Điều này về ngắn hạn thì có tác dụng kiềm chế Triều Tiên, nhưng về dài hạn thì lại là mối đe dọa trực tiếp đến mọi dã tâm của Trung Quốc. Hơn nữa, tái vũ trang có lẽ cũng là một cách hiệu quả kích cầu với nền kinh tế Nhật, bởi suất đầu tư nhiều lĩnh vực khác của Nhật Bản đã đạt tới bão hòa.

Với Trung Quốc, sự hung hăng của Triều Tiên sẽ tiếp tục là những cú thôi sơn khiến quốc gia này liên tiếp gặp vận rủi. Thế giới giờ đây nhìn Trung Quốc như một thứ quái vật hung hăng với tiềm năng đe dọa hòa bình. Không phải tự nhiên mà tính vỏn vẹn từ tháng 06/2010 đến nay, Trung Quốc liên tiếp đưa ra lời tuyên bố “Trung Quốc phát triển hòa bình và không đe dọa ai”. Theo thống kê của anh, thì cả Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và một loạt quan chức cao cấp nhất của Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố này không dưới 10 lần.
Điều khiến anh Lãng thích thú, là Trung Quốc càng tuyên bố về hòa bình, thế giới càng không tin. Hiện tại mà nói, Trung Quốc đã quá đau đầu vì những phản ứng bất lợi của các nước trong khu vực và thế giới trong nỗ lực chống lại dã tâm thôn tính của Trung Quốc tại biên giới Ấn Độ, vùng biển Đông Á và biển Đông Nam Á. Giờ đây Triều Tiên tiếp tục tọng vào họng Trung Quốc một khúc xương. Nếu hậu thuẫn Bắc Hàn (điều chắc chắn TQ phải làm), hà hơi cho triều đình phong kiến cha truyền con nối của họ Kim tiếp tục tồn tại, Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì một quân bài lợi hại để kiểm chế Mỹ, Nhật và đồng minh tại khu vực Đông Á. Điều này cần cho chiến lược của Trung Quốc, như một quân bài đối trọng với lá bài Đài Loan của Mỹ. Nhưng sự hung hăng của Triều Tiên càng khiến thế giới thêm ác cảm và coi Trung Quốc, thế lực hậu thuẫn cho sự sinh tồn của Triều Tiên là một mối đe dọa hòa bình. Trung Quốc không được gì thêm khi tiếp tục hậu thuẫn Bắc Hàn, mà lại càng mất đi nhiều thêm khi nỗ lực muốn tạo ra vỏ bọc một quốc gia thân thiện càng đi vào vô vọng. Mặt khác, nếu ra mặt gây sức ép mạnh với Bắc Triều Tiên, đến đường cùng chỉ khiến cho bố con anh Chí nổi điên, hoặc họ Kim sẽ tìm đường ngả về phía Mỹ, Hàn nhanh hơn (đây sẽ là ác mộng với Trung Quốc), hoặc thậm chí bố con nhà chí Kim sẽ quay lại xỉa cho cụ Bá Trung Quốc một nhát dao cũng chưa biết chừng.

Nói chung Hồ Cẩm Đào và bộ sậu về cơ bản ngu hơn anh Lãng, nhưng cũng không phải bọn đần. Trung Quốc do đó sẽ tiếp tục phải thu liễm dã tâm, tìm cách trụ qua cơn sóng gió.

Tình hình, về cơ bản, có lợi cho sự nghiệp cách mạng kháng Khựa của nhân dân ta. Đây là lúc các bạn cần hướng sự chú ý vào những vấn đề nội tại của Việt Nam. Những vấn đề rất lớn về tương lai quốc gia đang tiếp tục được các thế lực chính trị cân nhắc hàng ngày trong võ đài sắp xếp nhân sự trong kỳ đại hội này. Nói chung, chúng ta cần quan tâm đến những thứ gắn trực tiếp với tương lai phát triển của Việt Nam hiện nay, chứ không cần quan tâm nhiều đến những diễn biến bên ngoài, vốn tự thân nó đang diễn biến có lợi cho  Việt Nam.

Khi đối thủ đe dọa trực tiếp đến Việt Nam đang lúng túng như gà mắc tóc, chúng ta cần tranh thủ âm thầm đưa đất nước đi lên. Do đó, chúng ta cần hướng sự chú ý vào những vấn đề nội trị của Việt Nam. Sức mạnh quốc gia, tương lai dân tộc, đều nằm ở tiến trình đi lên của nền kinh tế nội tại chứ không phải là những diễn biến bên ngoài. 

Phần anh Lãng, đã quá chán ngán với 4 năm cai trị sai lầm nặng nề về phát triển kinh tế của triều đại Nguyễn Tấn Dũng. Mặc dù keo đấu giữa Dũng và Sang vẫn đang tiếp tục nhì nhằng, nhưng anh nghĩ Dũng bạn thân anh nên dũng cảm lui về vị trí chủ tịch nước. Bạn anh có thể làm tốt ngoại giao chính trị, đại diện cho bộ mặt quốc gia, điều mà bạn thân anh đã làm rất tốt trong năm 2010, chứ không nên tiếp tục can dự sâu vào vai trò định hướng chiến lược phát triển đất nước, điều mà bạn anh đã bộc lộ rõ sự yếu kém trong suốt 4 năm qua.

P/S: Con mẹ nó, vốn đang lúc bận rộn anh Lãng không định gõ phím dài. Nhưng vì khai sáng cho các bạn mà đã không làm thì thôi, hễ giáo huấn là anh đành làm cho trọn ý. Làm lãnh tụ mà yêu dân đúng là quá khổ. Đến giờ anh lại càng thấu hiểu nỗi khổ của cụ Mác, cụ Lê, cụ Wasington, cụ Hitler và các bậc tiền bối rậm râu bạn cũ nhưng nay đã tạch của anh Lãng

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

Định mệnh chông chênh

Cuộc đời con người vốn không phải là dài. Trong một cách nghĩ có tính định mệnh, Lãng anh luôn có một điều tâm niệm: Anh sẽ tạch vào năm 60 tuổi. Lý do rất đơn giản. Đối với một người đàn ông, 60 là một cái kết rất đẹp. Tung hoành hồ thỉ, tuổi đó cũng đã gọi là già. Không có cái gì nhục hơn là anh hùng về già. Nhìn thế sự trôi qua mà cảm thấy tâm không đi đôi với lực. Cụ Giáp có thể coi là một tấm gương điển hình cho thế sự đã qua. Hào quang quá khứ kiệt hiệt là thế nhưng cũng không khác hơn một con rồng mất nanh ở lúc xế chiều. Hơn nữa, tuổi 60, có hoành mấy thì cũng liệt dương rồi, sống nữa phỏng còn gì ý nghĩa? Tại sao phải chờ tới cái lúc chân tay run lập cập, đi đái phải uống Viagra cho khỏi ướt quần, chi bằng chết bố nó điở tuổi 60, thời điểm mà cuộc đời về cơ bản còn nhiều điều nuối tiếc nhưng cũng đã làm đủ những cái cần làm. Đẹp

Bởi suy nghĩ ấy, mà hôm nay anh tùy hứng viết ra đôi dòng nhận xét về thời cuộc, dẫu biết rằng đây là thời điểm hết sức nhạy cảm về mặt chính trị, và dù anh còn đôi chục năm nữa mới đến 60. Các thế lực đang đấu đá nhau, các bạn thân của anh trong Bộ chính trị ngày đêm bóp trán, nghĩ miếng thủ thế, tính bài múa thái cực quyền, đồng thời thủ miếng triệt hạ lẫn nhau. Đây không phải là lúc thích hợp để đưa ra những lời nhận xét, dù đúng, nhưng đau lòng hại thận với một số gương mặt chủ chốt quốc gia. Tuy nhiên, xét cho cùng, Lãng anh dù có hoành, có tham sống sợ chết, có ích kỷ hại nhân thì cũng vẫn là người Việt Nam. Dù anh và các bạn có không ăn chung nồi cơm, nhưng chúng ta vẫn ngồi chung một con thuyền. Thuyền đắm, tất không ai còn sống. Đó chính là lý do anh tùy hứng viêt ra đôi dòng tùy bút ngày hôm nay. Các bạn, bọn con bò, hãy yên lặng khoanh tay mà nghe.

Đây là một thời kỳ nhạy cảm, đại hội đảng sắp nhóm họp với nhiều thay đổi lớn về nhân sự. Vị tổng bí thư vui tính và nhàn nhã, bạn thân của anh, bác Mạnh cơ bản sẽ về. Một bạn thân khác của anh, bác Triết cũng coi như hưởng phúc tuổi già. Sống trên đời oanh liệt như thế âu cũng là đủ. Nhưng còn những người chưa đến cái mốc đó, vẫn còn ham hố giấc mộng quyền lực ăn trên ngồi chốc thì sao?

2008 - 2010, ngắn ngủi 3 năm, nhưng Việt Nam trải qua đủ giấc mộng thăng trầm. Thời điểm này nhìn lại, thấy rõ 3 năm qua Việt Nam có nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đồng thời gặp phải không ít đắng cay. Thành tựu lớn nhất của Việt Nam trong thời gian qua, anh cho, là lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao. Việt Nam có những đột phá quan trọng trong chiến lược quốc phòng đa phương và quốc tế hóa các vấn đề tranh chấp chủ quyền. Ở mặt này, Việt Nam thành công lớn. Anh Lãng khá hài lòng khi động thái của Việt Nam về cơ bản đi sát với những bước chiến lược anh vạch ra từ cách đây 4 năm, thời điểm năm 2007. Trong cùng thời kỳ, những tham vọng chiến lược mà Trung Quốc phô bày cũng không vượt ra ngoài những gì anh đã dự đoán, và đối sách của Việt Nam, cũng không mấy khác so với nhận định của anh. Năm 2010 đánh dấu một bước ngặt có tính đột phá của Việt Nam. Qua nhiều cơ may, với sai lầm của Trung Quốc khi bộc lộ quá sớm và quá lộ liễu dã tâm, với sự điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ và các bước đi ngoại giao khôn ngoan của Việt Nam, chúng ta hiện không còn ở thời điểm quá nguy hiểm trong bang giao chủ quyền với người khổng lồ phương Bắc. Trong thiên Lãng luận “game theory” anh từng nêu một mệnh đề: Trong cuộc chơi dài với Trung Hoa, Việt Nam phải có đủ dũng khí thể hiện mình có đủ tư cách là một partner trong một game theory, mới ngõ hầu dành được phần nào lợi thế. Ngay lúc này đây, anh cho, chúng ta có thể tự hào rằng Việt Nam đã có tư cách ấy. Về điểm này, lịch sử sẽ ghi nhận công lao của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, những bạn thân tai to của anh. Họ đã thể hiện được phẩm chất và bản lĩnh trong những thời khắc khó khăn của đất nước.
Tiếc thay, trong cùng thời kỳ, vấn đề nội trị là một thất bại to lớn của bộ máy cầm quyền. Thủ Tướng Dũng hơn ai hết, là người chịu trách nhiệm chính cho những thất bại cay đắng của Việt Nam trong điều hành nền kinh tế quốc gia. Sai lầm ấu trĩ của chính quyền thời điểm nửa đầu 2008 đã gây những tổn thương lâu dài cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã khủng hoảng sớm hơn thế giới ít nhất 8 tháng và đồng thời cũng ra khỏi khủng hoảng muộn hơn thế giới ít nhất 4 tháng. Chính phủ, hơn ai hết, với những sai lầm nặng nề trong việc điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá thời điểm từ tháng 2 năm 2008, phải chịu trách nhiệm chính cho sự suy thoái của đất nước. Bước sang năm 2010, khi Việt Nam phần nào gượng dậy, quả bom nguyên tử Vinashin bùng nổ. Đây là một cú sốc kinh khủng đối với Việt Nam, không chỉ bởi số nợ ngót 100 nghìn tỷ mà Vinashin giộng lên đầu người dân Việt Nam. Hiệu ứng domino từ nó còn lớn hơn rất nhiều lần. Thủ tướng Dũng xuất sắc bao nhiêu về mặt ngoại giao trong năm 2010 thì lại rối rắm bấy nhiêu trong cung cách xử lý đống bầy hầy Vinashin. Thay vì việc dũng cảm nhận trách nhiệm và xắn tay quyết liệt xử lý hậu quả từ cú sốc Vinashin, người ta nhận thấy một sự đùn đẩy về trách nhiệm. Chính phủ của thủ tướng Dũng, với những phát ngôn bất nhất và điều hành rối rắm về chính sách của những người nắm vai trò then chốt trong nền kinh tế quốc gia, gồm đích thân thủ tướng, phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, thống đốc ngân hàng nhà nước khiến đại bộ phận dân cư mất niềm tin sâu sắc vào năng lực chèo lái nền kinh tế quốc gia của chính phủ. Khi lòng tin không còn, mọi tuyên bố của quan chức không còn sức nặng. Người Việt Nam đang thực sự mất phương hướng, làn sóng rút tiền khỏi ngân hàng, đem ký gửi niềm tin vào vàng và bất động sản, đang là mối hiểm họa cận kề đẩy Việt Nam xuống lề vực thẳm. Lãi suất ngân hàng ngày hôm nay đã lên tới mức báo động 18%, khiến người ta mơ hồ hình dung tới địa ngục tài chính thời năm 2008.

Trong những ngày này, bên cạnh những thông tin u ám về triển vọng kinh tế quốc gia, cũng đồng thời diễn ra một làn sóng khiến niềm tin và tính đoàn kết xã hội bị tổn thương. Chế độ trong lúc bấp bênh, với những thất bại không thể hàn gắn một sớm một chiều về kinh tế, đang nỗ lực dẹp làn sóng chỉ trích với bàn tay sắt chế áp những tiếng nói đối lập. Một vài gương mặt cũ tiếp tục bị cầm tù, một số gương mặt mới bị bổ sung vào danh sách triệt hạ. Cố nhiên, anh đang nhắc tới Cù Huy Hà Vũ. Nói một cách công bằng, anh nhận xét Cù Vũ là một người hám danh và thích nổi tiếng. Mặt khác, anh cũng cho rằng Cù Vũ có tác động tốt với nền chính trị Việt Nam. Bạo phổi, cậy CV con ông cháu cha, bên cạnh nhiều tuyên ngôn vu vơ, Vũ cũng đóng góp phần nào cho sự đổi mới của thể chế Việt Nam. Lịch sử rồi sẽ ghi nhận Cù Huy Hà Vũ là người đầu tiên khởi kiện đích thân thủ tướng vì những quyết sách gây tranh cãi, nói đúng hơn là sai lầm. Tuy nhiên, một số hoạt động khác của nhân vật hám danh này đã khiến chính quyền buộc phải ra tay triệt hạ. Việc cổ súy đa đảng công khai của Cù Huy Hà Vũ tại thời điểm chông chênh này, vượt quá mức nhẫn nại và ưu ái mà chế độ có thể dành cho vị tiến sỹ luật này. Vũ bị bắt là một tất yếu.

Nhân sự hệ thống đang thay đổi. Với ánh hào quang về những thành tựu đối ngoại năm 2010, thủ tướng Dũng xứng đáng có thể trụ vững tại vị trí chèo lái nền kinh tế quốc gia. Không may, trái bom nguyên tử Vinashin đã giáng một đòn quá mạnh vào chính phủ của bạn thân anh. Sai lầm trực tiếp và không thể trốn tránh trách nhiệm của người đứng đầu c chính phủ này, khiến vị trí của bạn anh bấp bênh hơn bao giờ hết. Ít ngày trước đây, chế độ đồng lòng triệt hạ những ý kiến chỉ trích, mà phần lớn nhắm trực tiếp vào thủ tướng, coi như một hành động công khai cho thấy sự ủng hộ tại vị với bác Dũng bạn thân anh. Tuy nhiên, nhân dân quá mất niềm tin, thể hiện ở chỗ đồng tiền quốc gia giờ đây như một cục than bỏng tay mà giới có tiền muốn nhanh chóng đẩy đi, để ôm vào các tài sản có tính bền vững như vàng và bất động sản. Cú sốc lãi suất, tỷ giá, giá vàng và lạm phát đang diễn ra hiện nay sẽ là một cú thôi sơn và chính quyền hiện tại. Cá nhân anh cho rằng bác Dũng không thích hợp với vai trò người lèo lái kinh tế quốc gia. Với gương mặt sáng sủa cùng với thành tựu ngoại giao không thể phủ nhận, vai trò thích hợp với bác Dũng bạn thân anh, có lẽ là vị trí chủ tịch nước.

Một bạn thân khác của anh, Trương Tấn Sang, hiện tại là ứng cử viên hàng đầu cho vị chí Tổng Bí Thư. Tương lai của Nguyễn Phú Trọng vẫn là một ẩn số. Nguyên vị tại quốc hội có lẽ thích hợp cho nhân vật này chăng? Vấn đề còn lại là, ai sẽ là người lèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam giữa lúc chông chênh trong vai trò thủ tướng? Một số nhắc đến cái tên Hoàng Trung Hải, một số khác đề cập tới một rising star trong nền chính trị Việt Nam là Nguyễn Bá Thanh, một nhân vật có nhiều thành tích ấn tượng trong xây đắp Đà Nẵng. Tuy nhiên, anh cho rằng cả hai nhân vật này đều thiếu hậu thuẫn để có thể làm nên chuyện. Thanh bạn anh thành công ở Đà Nẵng, nhưng nếu gia nhập triều đình, sẽ như một con hổ không nanh khi gần như không có hậu thuẫn chính trị phía sau, ngược lại, Hải chưa gây được đủ niềm tin cho thấy là một người chèo lái quốc gia bản lĩnh. Hơn lúc nào hết, mới thấy sự điêu linh về nhân tài chèo lái quốc gia. Nói cách khác, người tài Việt Nam trong bộ máy chóp bu chính quyền hiện ít hơn bao giờ hết, trong khi, Việt Nam không phải là thiếu người tài.

Chế độ Việt Nam đang ở một thời khắc chông chênh, khi tình thế đã chỉ ra, hoặc đất nước sẽ thành công và vươn lên mạnh mẽ trong năm 2011, hoặc sẽ phải an vị với thân phận nhược tiểu quay cuồng trong cơn sóng dữ. Đây chính là lúc anh hy vọng các bạn thân anh trong Bộ Chính Trị, có đủ dũng khí, đủ tầm nhìn và đủ cái tâm để dẹp bỏ tham vọng đấu đá, lựa chọn gương mặt thích hợp vào vị trí thủ tướng lèo lái quốc gia. Đồng thời, toàn tâm đoàn kết ủng hộ gương mặt đại diện mà mình đã chọn. Cá nhân anh tin rằng, Nguyễn Bá Thanh, nếu giành được sự ủng hộ của giới quân đội và công an, sẽ là một nhân vật thích hợp cho vai trò thủ tướng. Đây là điều kiện tiên quyết, cũng là điều kiện sống còn. Một cuộc thay máu theo đúng nghĩa đen, với những gương mặt đã mất niềm tin với đám dân đen như Hùng, Giàu, hơn lúc nào hết cần phải thay thế. Việt Nam cần dũng cảm, thanh trừng triệt để những nhân vật nhúng chàm trong vụ Vinashin, để vãn hồi niềm tin trong đám quần chúng dân đen, đồng thời kiên quyết dừng những dự án vốn quá phiêu lưu và gây hại quốc gia như Bô xít, bám lấy những cơ may mà sự mâu thuẫn giữa các nước lớn như Trung – Nhật đang mở ra cho Việt Nam, tiêu biểu là dự án khai thác đất hiếm, và nhất là, cần củng cố những mối quan hệ đa phương vốn được xây đắp khá thành công trong năm 2010 với Mỹ, Nhật, Ấn và khối Asean, vốn là những nhân tố khiến Trung Quốc hiện phải co lại trong dã tâm ở Biển Đông.

Việt Nam đang ở thời điểm có tính định mệnh, với vô số hiểm nguy, nhưng không phải không có những cơ may mà nếu tận dụng tốt, chúng ta có quyền kỳ vọng tới một tương lai tươi sáng. Dẫu rằng Việt Nam còn nghèo, còn nhiều bất cập, nhưng cuối cùng, chúng ta vẫn là một dân tộc mà bản lĩnh và sự quật cường vốn đã được lịch sử kiểm chứng qua quá nhiều sóng gió.

P/S À nhân tiện anh trả lời một số bạn PM hỏi anh rằng có phải anh tham gia diễn đàn nọ diễn đàn kia với nick nọ nick kia thế này nhé: Anh chán mẹ nó việc tham gia các thể loại fò rum từ gần 2 năm nay, blog này là chỗ duy nhất anh trực tiếp up lên vài suy nghĩ khi anh có hứng, và hiện tại, anh không có nick nào tại bất cứ forum nào, cũng không up bài lên bất cứ chỗ nào ngoài cái miếng đất chó ỉa này của anh. Cái nick Lãng cũng là cái đéo gì đâu mà một số bạn cứ mạo nhận nó làm đéo gì. Đèo mẹ

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Copy và bản quyền

Nhân có ý kiến của một bạn comment về chuyện một số bài viết của anh bị copy, chỉnh sửa và thậm chí đổi tên và nhân tiện đổi tên luôn tác giả . Xét ra với nhiều người có thể đây là một chuyện không mấy hay ho, riêng phần anh có vài ý kiến nhỏ thế này.

Thật ra tôn chỉ từ lâu của anh, hay nói đúng hơn là cái nick "Lãng" khi tham gia thế giới net mênh mông, gói gọn trong mục đích: Đùa cợt, và chia sẻ vài góc nhìn về cuộc sống. Khi post một bài viết lên mạng, cái anh quan tâm, là những người đọc nó có thể cảm thấy sự hài hước đùa cợt thoáng qua, và nếu có thể, đọng lại đâu đó trong tư duy một vài phân tích của anh về một số nội dung mà anh cho là chúng ta có cùng sự quan tâm.

Làm thử một search nhỏ trên google, thấy quả thật nhiều ý kiến của anh bằng cách nào đó đã được nhân lên ở rất nhiều trang web khác nhau. Một số thậm chí được dịch sang tiếng Tàu (chắc để các bạn Trung Quốc thân mến tham khảo), rồi lại dịch ngược lại sang tiếng Anh. Nếu coi nick Lãng là một trò đùa trên mạng, anh cho rằng, trò đùa ấy ít nhiều thành công. Cá nhân anh không quan tâm lắm đến chuyện bài viết của anh bị copy hay mạo danh. Điều quan trọng là điểm chung mà chúng ta tìm được khi cùng nhìn nhận một vấn đề.

Tất nhiên khi post bài lên mạng, điều mong muốn của người viết bao giờ cũng là bài viết của mình được giữ nguyên nội dung, vì nó kèm theo phong cách cùng với những ý tưởng mà người viết muốn chuyển tải. Do đó, anh cũng mong có bạn nào đó nếu cảm thấy bài anh viết đáng để copy, tùy ý, nhưng xin giữ nguyên nội dung và không chỉnh sửa.

Thêm một mong muốn nhỏ, anh muốn giữ mình trong sự riêng tư. Trang blog này cũng sẽ là nơi duy nhất anh trực tiếp gửi lên vài suy nghĩ về cuộc sống (khi anh có hứng). Mong các bạn tôn trọng sự riêng tư ấy của anh.

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

Chiến lược mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Sau những động thái quan trọng của các thế lực liên quan đến khu vực Biển Đông, Trung Quốc đang hiệu chỉnh đối sách của mình cho phù hợp với tình hình mới.

Truyền thông Trung Quốc sau khi dùng những ngôn từ dậm dọa đao to búa lớn nặng nề với Việt Nam và những nước Asean, sau các diễn biến liên quan đến sự trở lại của Mỹ ở Biển Đông, thấy rằng chính sách này không những không hiệu quả, thậm chí còn đem lại hiệu ứng ngược, Trung Quốc rất nhanh chóng điều chỉnh chính sách của mình. Thay vì các ngôn từ dậm dọa, bóng gió hoặc trực tiếp đề cập tới sức mạnh quân sự và các đòn trừng phạt kinh tế, Trung Quốc nhanh chóng đổi tông sang những ngôn từ có tính mềm dẻo hơn, nhằm tìm kiếm một cách tiếp cận khác đối với Việt Nam và các nước trong khu vực.

Do việc dân việc nước bề bộn, không có thời gian đi sâu phân tích, anh Lãng nêu ra vài nhận định ngắn kèm theo mấy ý kiến chỉ đạo, bọn chã phải lấy đó làm kim chỉ nam định hướng hành động và suy nghĩ trong thời gian tới:

Nhận định 1:
Tham vọng của Trung Quốc không bao giờ thay đổi: Trước hết phải khẳng định rằng, bất kể cách tiếp cận của Trung Quốc là mềm dẻo hay cứng rắn, thì tham vọng hàng đầu của Trung Quốc vẫn luôn luôn là đường lưỡi bò độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc có thể trắng trợn lấn át lướt tới khi thấy không có sức mạnh nào chặn được nó (Như những diễn biến suốt từ năm 2007 - đầu năm 2010 trên biển, Trung Quốc liên tục đơn phương cấm biển, ngăn chặn các hợp đồng khai thác thăm dò của VN, xua đuổi ngư dân VN bằng các biện pháp khủng bố khỏi khu vực biển đông), hoặc có thể kiềm chế hơn khi tình hình không còn thuận lợi (như hiện nay, khi Mỹ quay lại khu vực, và các nước Asean tỏ ra cứng rắn hơn), tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, dã tâm của Trung Quốc với Biển Đông là không thay đổi. Kết rút ra: Mọi hành động, suy nghĩ, kế hoạch, mục đích của chúng ta đều phải đặt trên nền tảng nhìn xuyên thấu mục tiêu và dã tâm của Trung Quốc để luôn luôn cảnh giác.

Nhận định 2: Trung Quốc lựa chọn cách tiếp cận mềm để xóa tâm lý chống đối Trung Quốc ở các nước Asean, đặc biệt là Việt Nam, với hai mục đích:
1.Kìm kẹp mạnh hơn Việt Nam về mặt kinh tế, thông qua việc tìm cách thâm nhập ngày một sâu hơn vào nền kinh tế Việt Nam.
2. Phân hóa và chia rẽ tâm lý cảnh giác với Trung Quốc của người Việt Nam.

Tiêu biểu cho chính sách này, là động thái mới nhất của Trung Quốc khi bộ trưởng tài chính nước này đưa ra lời đề nghị Asean chấp nhận đồng Nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong giao thương giữa Trung Quốc và khu vực. Hơn nữa, sau các lời đe dọa trừng phạt về mặt kinh tế khi Việt Nam điều chỉnh chính sách xích lại Mỹ, Trung Quốc nhận thấy việc đó có thể tạm thời gây khó khăn cho Việt Nam, nhưng lại bất lợi về mặt chiến lược nếu sau cú sốc ban đầu Việt Nam gượng dậy được (điều chắc chắn Việt Nam có thể thực hiện) và thoát một cách triệt để khỏi cái bóng thâm hụt thương mại với Trung Quốc, do đó, thực tế Trung Quốc không dám đưa ra bất cứ chính sách bất lợi nào khiên Việt Nam nỗ lực thoát khỏi ảnh hưởng của mình.

Về mặt văn hóa và con người, Trung Quốc tổ chức đại hội thanh niên với sự tham gia của 30000 người, mời 3000 thanh niên Việt Nam tham dự tại quảng châu. Đây là một chính sách quan trọng của Trung Quốc nhằm tác động phân hóa, tiến tới xóa bỏ tâm lý cảnh giác với Trung Quốc vốn tồn tại phổ biến và ăn sâu trong người Việt, đặc biệt là đánh trực tiếp vào tầng lớp thanh niên. Chính sách này của Trung Quốc có thể có những thành công nhất định, nếu người Việt không cảnh giác.

Thời gian tới, Trung Quốc nhất định đẩy mạnh chính sách theo hai hướng này, Việt Nam cần hết sức cảnh giác.

Nhận định 3: Chính sách quốc gia của Việt Nam đang thực dụng và khá khôn ngoan. Có vẻ những ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ Lãng với Bộ Chính Trị gần đây đã được cân nhắc một cách nghiêm túc và sát với thực tế. Anh Lãng khá hài lòng với các động thái khôn ngoan các bạn tai to bạn thân anh trong Bộ Chính Trị. Bên cạnh việc điều chỉnh chính sách củng cố tiềm lực quốc phòng (mua sắm vũ khi, đa dạng hóa nguồn cung cấp), xích lại phía Mỹ, tìm cách hạn chế nhập siêu với Trung Quốc (điều chỉnh tăng tỷ giá, con mẹ nó, vụ này làm anh mất khá tiền khi bụp phát các bạn tăng tỷ giá 2%, thôi coi như tiền cúng cho chính sách quốc gia), Việt Nam cũng tỏ ra khá thủ đoạn trong các hoạt động thăm viếng và phát ngôn với Trung Quốc, theo hướng dùng những ngôn từ xoa dịu triệt để. Đại loại như chính sách ba không mà tướng Vịnh tuyên bố trong chuyến thăm Trung Quốc gần đây: Không đồng minh, không liên minh quân sự, không dùng nước thứ ba chống nước khác... đại loại thế. Ngôn từ chỉ là ngôn từ, quan trọng vẫn là hành động thực tế. Do đó, việc tuyên bố cứ tuyên bố, nhưng động thái thực tế nếu vẫn bám sát theo chỉ đạo chiến lược của anh Lãng: Tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế với Trung Quốc, nâng cao tiềm lực quốc phòng, xích lại Mỹ và phương tây, củng cố quan hệ chiến lược với Nhật, Ấn, Nga và khối Asean, Việt Nam sẽ thành công.

Kết luận cuối cùng: Chúng ta cần cảnh giác. Tham vọng và dã tâm của Trung Quốc ở Biển Đông là không bao giờ thay đổi. Dã tâm của Trung Quốc có thành công hay không, phụ thuộc vào sức đề kháng tổng hợp của Việt Nam, về mọi mặt: Kinh Tế, Quân Sự, Ngoại Giao. Chúng ta cần cư xử với Trung Quốc theo cách thức của một dân tộc quật cường, khôn ngoan và đầy bản lĩnh, như chúng ta đã và sẽ trong suốt lịch sử tồn tại của đất nước. Đây chính là lúc các bạn, nghĩa là bọn con bò, cần đặt niềm tin vào sự chỉ đạo của anh, lãnh tụ Lãng kính yêu của các bạn

P/S Thời gian tới anh bận rộn việc đấu đá leo sâu vào Bộ Chính Trị, trách nhiệm rất nặng nề. Ý kiến chỉ đạo của anh, các bạn cần nghiền ngẫm kỹ.

Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

Nền hòa bình tạm thời cho Việt Nam

Phân tích xu thế thời cuộc là một việc không dễ dàng, bản thân nó chứa quá nhiều yếu tố bất định và hàm chứa sẵn rủi ro. Tuy nhiên vẫn có nhiều ước đoán vượt thời đại từng được đưa ra. Thời gian đã kiểm nghiệm tính chính xác của những phân tích ấy.

Cách đây khoảng 4 năm, anh Lãng mở topic "Làm gì đây?" tại diễn đàn Tathy Thăng Long khi bàn về mối hiểm họa Trung Quốc đối với Việt Nam, lúc đó anh thật sự kinh hoàng khi nhìn nhận vào một sự thờ ơ có hệ thống trong suy nghĩ của các cơ quan chính thống Việt Nam đối với hiểm họa to lớn này của đất nước. Ngoại trừ những phản ứng ngoại giao yếu ớt và đầy mờ nhạt của người phát ngôn Bộ ngoại giao mỗi khi có một sự kiện lấn lướt của nước ngoài ở Biển Đông, các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam lúc đó gần như coi Biển Đông là một đề tài cấm kỵ. Thậm chí các câu chữ liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa còn bị liệt vào một trong số những câu chữ thuộc đề tài "nhạy cảm". Tuy nhiên điều rất may mắn là những suy nghĩ cảnh giác với Trung Quốc dường như đã là một phần máu thịt của người Việt Nam. Topic ấy nhận được nhiều sự quan tâm, đốm lửa lan nhanh trên khắp thế giới mạng. Cùng với sự kiện Tam Á, làn sóng cảnh giác và đấu tranh của người Việt cho Biển Đông trở thành một cao trào bùng phát dữ dội. Điểm nhấn cho nó là hai cuộc biểu tình liên tiếp trước sứ quán và lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh của nhiều thanh niên Việt Nam. Kể từ đó, dân tộc dường như thức tỉnh sau một thời kỳ dài thờ ơ. Anh cho rằng, những sự kiện như thế rồi sẽ được ghi lại dấu ấn đối với lịch sử, bất kể nó đã không nhận được sự thừa nhận chính thức từ phía chính quyền. Đó là khúc tráng ca của lòng yêu nước.

Ý chí của người dân cuối cùng đã phản ứng vào chính sách. Sau sự kiện Tam Á cuối năm 2007, báo chí phản ánh về Biển Đông thường xuyên và cập nhật hơn, người Việt thì luôn luôn cảnh giác trước mọi động thái liên quan đến Trung Quốc. Sự cảnh giác ấy không thừa. Đấu tranh của người Việt đã góp phần chặn đứng sự thâu tóm của Trung Quốc ở Tây Nguyên (Bản dự thảo kế hoạch đầu tiên khai thác Bauxite Tây Nguyên do TKV đưa ra thậm chí đề xuất cho phép Trung Quốc góp vốn tới 51% nhà máy khai thác quặng, sau làn sóng đấu tranh dữ dội của người Việt, Bộ Chính Trị ra nghị quyết khẳng định nhà máy khai thác chỉ sử dụng nhà thầu TQ xây dựng, còn 100% sở hữu thuộc về Việt Nam). Tiếp đó là các câu chuyện liên quan đến thuê đất thuê rừng, với mối nguy cơ ít hơn, nhưng thái độ quyết liệt của người Việt đã làm rõ nhiều câu chuyện của vấn đề, và giúp chặn đứng nhiều nguy cơ lớn.

Sự cảnh giác của người Việt hòan toàn không thừa. Chúng ta đang sống cạnh một cường quốc với dã tâm thôn tính và bành trướng vào hàng mạnh nhất lịch sử.

Có nhiều phân tích anh từng dự báo về các bước tiến của Trung Quốc trên Biển Đông hồi năm 2007. Sau gần 4 năm nhìn lại, hầu hết những ước đoán ấy đều thành sự thật. Các mốc thời gian 2008, 2009 và nửa đầu năm 2010 trôi qua một cách nặng nề. Những cao trào căng thẳng trên biển bùng phát không ít lần trước sự lấn lướt của các phương tiện vũ trang Trung Quốc trên Biển Đông. Nguy cơ về một cuộc xung đột có thể bùng phát bất cứ lúc nào với sự hung hăng của tàu bè Trung Quốc. Việt Nam cho đến rất gần đây thôi còn đang đứng trước nguy cơ mà anh cho rằng ít người chịu nhận ra. Những tháng đầu năm 2010, Trung Quốc có thể gây hấn bất cứ lúc nào, khi sức mạnh Việt Nam về mặt quân sự còn thua kém trong khi chính sách của các nước lớn chưa định hình. Mặc dù Việt Nam ký kết hàng loạt các hợp đồng mua sắm khí tài tốn kém, nhưng thời gian giao hàng và thời gian để sử dụng thành thạo trang thiết bị (đặc biệt là tàu ngầm) thì còn phải mất 3 - 5 năm. Trong khi đó, sẽ lấy gì để đảm bảo hòa bình trong 3 - 5 năm trống vắng về khả năng phòng thủ?

Tuy nhiên hiện nay, anh có thể khẳng định với các bạn, nguy cơ về một cuộc xung đột ở Biển Đông đã giảm xuống mức cực thấp, mặc dù giọng điệu gây hấn của Trung Quốc từ cả các nguồn chính thống, phi chính thống, báo mạng hay dư luận sẽ còn tăng mỗi lúc một cao. Chúng ta nên vui mừng vì sự hiện diện của người Mỹ, sự điều chỉnh chính sách của nó đang tái lập một trật tự cân bằng mới trong khu vực. Trong loạt phân tích "Viễn kiến biển đông" anh có nhấn mạnh về vai trò "chiếc ô an ninh" mà sự hiện diện của Mỹ mang lại. Trong một khoảng thời gian từ 5 - 10 năm, khi Mỹ chưa hạ gục được Trung Quốc về kinh tế, sẽ rất khó có khả năng hai nước lớn này bắt tay mặc cả với nhau về quyền lợi và phân vùng ảnh hưởng. Đó sẽ là thời gian Mỹ tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông, thắt chặt và củng cố liên minh với những bạn bè truyền thống, đồng thời o bế quan hệ với những người bạn mới. Đó sẽ là thời gian trăng mật của mối quan hệ Mỹ - Việt. Tận dụng tốt được thời kỳ này, Việt Nam sẽ củng cố được sức mạnh của mình, và có thể tự bảo vệ được chính mình ngay cả khi nước Mỹ rời đi.

Hiện tại mà nói, khi Mỹ đang để mắt tới Biển Đông, thậm chí chẳng ngán ngại gì mang tàu sân bay tới tập trận tại sát cánh cổng Trung Quốc là Hoàng Hải, thì Trung Quốc khó có thể dám động binh trước mắt quan sát của Mỹ. Chỉ riêng cái nguy cơ Mỹ cung cấp khí tài, trang bị cho các nước có tiếng tăm cứng cổ như Việt Nam nếu Trung Quốc phát động chiến tranh cũng đã đủ để Trung Quốc kinh hoàng, chưa tính tới việc Mỹ phong tỏa Mallacca với cái cớ bảo đảm an ninh hàng hải trong tình hình xung đột. Cho nên, có thể khẳng định rằng, trong thời gian 5 năm trước mắt, nguy cơ chiến tranh ở Biển Đông là rất rất thấp. Anh Lãng cuối cùng đã có thể thở phào, một cách nhẹ nhõm trong âu lo.

Trong thời gian có nền hòa bình đảm bảo từ 5 - 10 năm ấy, khi các thế lực lớn đang giữ miếng gằm ghè nhau, sẽ là ngu xuẩn nếu chúng ta rung đùi, buông xuôi và phó mặc vào một nền hòa bình dễ dãi. Đây chính là khoảng thời gian quý báu người Việt Nam cần hết sức tranh thủ để nâng cao sức mạnh quốc gia:

- Trong vòng 5 năm, hầu hết các hợp đồng mua sắm khí tài ồ ạt Việt Nam ký thời gian qua đều sẽ được giao hàng. Việt Nam sẽ có nhiều tàu chiến hiện đại, một hạm đội gồm đủ 6 tàu ngầm tấn công và nhiều phi đội chiến đấu cơ hiện đại. Khi có đủ số khí tài này trong lực lượng, có thể nói Việt Nam sẽ thực sự là một lực lượng đáng gờm về mặt quân sự ở Biển Đông, có khả năng đáp trả tương xứng với bất cứ một sự đe dọa nào từ Trung Quốc. Thua kém về trang bị, về số lượng khí tài nhưng Việt Nam chiếm lợi thế tuyệt đối về địa lợi. Người Việt cũng có truyền thống tài ba trong việc phát huy tính năng các loại khí tài trong chiến đấu. Điều này thì ai cũng đều hiểu rõ. Có nghĩa là, nếu người Việt không chủ quan, thì trong vòng 5 năm tới, chúng ta chắc chắn sẽ có trong tay một khả năng tự vệ đáng nể ở Biển Đông, lúc đó, ngay cả khi Mỹ đã thỏa thuận xong với Trung Quốc về các vấn đề chiến lược và rút đi, thì Việt Nam cũng đã trở thành một cục xương khó nuốt.

- Trong vòng 5 năm tới, sẽ là thời kỳ nồng ấm đặc biệt trong quan hệ Mỹ - Việt. Việt Nam cần hết sức tranh thủ thiện cảm có tính cấp thời này để khai thác các lợi ích từ Mỹ. Cần thu hút tối đa các nguồn vốn đầu tư, các nguồn viện trợ, thậm chí là các nguồn cung cấp trang thiết bị quân sự hiện đại để phát triển kinh tế và quốc phòng. Việt Nam cần tận dụng việc Mỹ đánh giá vai trò quan trọng của Việt Nam trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc, để thúc đẩy Mỹ áp dụng những chính sách có lợi nhất giúp Việt Nam mạnh lên, chẳng hạn về mặt kinh tế thì công nhân Việt Nam là nền kinh tế thị trường, xóa bỏ các hàng rào kỹ thuật chặn hàng hóa Việt Nam vào Mỹ, về mặt quân sự thì viện trợ và bán các khí tài hiện đại, về mặt khoa học công nghệ thì giúp Việt Nam đào tạo chuyên gia, giúp xử lý các vấn nạn về môi trường ... Nếu khai thác tốt nước Mỹ trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ có một sức bật lớn để tiến lên phía trước.

Có thể khẳng định rằng, trong 5 - 10 năm tới, một khi Mỹ vẫn còn coi Trung Quốc là hiểm họa đe dọa sự thống trị kinh tế của Mỹ, nước Mỹ sẽ tìm mọi cách ép Trung Quốc phải nhượng bộ về chiến lược phát triển. Cuộc đấu này cam go, Mỹ sẽ thắng nhưng tốn thời gian, và thời gian đó sẽ là món quà cho người Việt Nam. Việt Nam sẽ rất ít có nguy cơ bị Trung Quốc tấn công, một khi Trung Quốc vẫn còn phải đương đầu với sức ép từ Mỹ. Do đó, chúng ta ít nhiều có thể an tâm về một nền hòa bình tạm thời.

Ngược lại, anh cho rằng thời gian tới sức ép về mặt kinh tế của Trung Quốc với Việt Nam sẽ cực kỳ căng thẳng. Trung Quốc sẽ đẩy việc tuyên truyền chống Việt Nam thành một cao trào, sẽ có rất nhiều dậm dọa, sẽ có rất nhiều sức ép về kinh tế được đưa ra. Mục tiêu chính là nhằm làm Việt Nam khiếp sợ, quỵ gối và quy hàng. Việt Nam sẽ phải đối mặt với một thời kỳ khó khăn về kinh tế, bởi hiện tại hoạt động kinh tế của Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào quan hệ thương mại với Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ chậm lại, thậm chí sẽ có không ít khủng hoảng khi Trung Quốc dùng các ngón đòn dưới háng về tỷ giá, về hàng xuất và dựng lên các hàng rào kỹ thuật đối phó Việt Nam. Đây sẽ là một thời kỳ người Việt Nam cần thắt lưng buộc bụng theo đúng nghĩa đen.

Tuy nhiên, với một tầm nhìn xa hơn vào tương lai, anh lại cho rằng những khó khăn ấy là cơ may lớn của Việt Nam để thoát khỏi cái bóng ám ảnh nặng nề của nền kinh tế Trung Quốc. Hiện tại Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nhiều nguồn hàng xuất xứ Trung Quốc. Việt Nam nhập siêu nặng nề với Trung Hoa trong khi xuất siêu với phần lớn các nền kinh tế châu Âu và nước Mỹ. Nền sản xuất Việt Nam còn bị chèn ép nặng nề bởi làn sóng hàng lậu xuyên biên giới từ lâu đã vượt quá mức báo động. Việc Trung Quốc tiến hành các hành vi gây sức ép kinh tế sẽ khiến Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề trong ngắn hạn và gây ra những tổn thương lâu dài, đồng thời cũng sẽ làm quan hệ thương mại Việt - Trung sụt giảm mạnh. Về mặt chiến thuật, chúng ta sẽ tổn thất nặng trước các đòn trừng phạt kinh tế của Trung Quốc, nhưng về mặt chiến lược, một chân trời mới sẽ mở ra đối với Việt Nam. Một khi Việt Nam thoát được khỏi sự lệ thuộc vào các nguồn cung cấp hàng hóa Trung Hoa, thiết lập được các nguồn cung cấp mới, và đặc biệt, từ trong khốn khó xây dựng được năng lực tự chủ riêng của nền kinh tế, thì đó cũng chính là lúc Việt Nam có thể tự cường, và có thể tin vào một nền độc lập, tự chủ, hòa bình lâu dài bên cạnh Trung Hoa.

Anh tin chắc sẽ có không ít thế lực ở Việt Nam chống phá quyết liệt những định hướng này, bởi quyền lợi cá nhân của họ gắn liền với các hoạt động kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc chắc chắn cũng sẽ nỗ lực làm suy yếu, chia rẽ sự đồng nhất về ý tưởng của Việt Nam, song song với sức ép về kinh tế, sẽ là sự đe dọa nặng nề về mặt ngoại giao và ngôn từ. Nhưng anh còn chắc chắn hơn rằng, nếu chúng ta kiên quyết, vững vàng, thì Việt Nam sẽ thành công tự đứng trên đôi chân của mình. Có thể ngẩng mặt tự tin vào chính một nền hòa bình được đảm bảo bằng sức mạnh nội tại quốc gia, chứ không phải một nền hòa bình mong manh nhờ đánh đu thời cuộc.