Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Việt Nam năm 2015, chông chênh giữa ngã ba đường.

25/02/2015.

Để đánh giá về tình trạng hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào những tình huống khó khăn mà người Việt Nam đang phải đối mặt. Trước hết, không gì khác hơn là tình huống ngặt nghèo trên Biển Đông. Trước năm 2014, chiến trường biển đông tính từ Đà Nẵng xuôi về phía nam, địa lợi thuộc tuyệt đối về Việt Nam. Đường bờ biển dài, có thể thiết lập vô số căn cứ lâm thời cho lực lượng hải quân, nhiều vịnh biển kín đáo có thể làm nơi trú ẩn cho tàu ngầm, khoảng cách gần và nhiều sân bay quân sự, cả chính thức cũng như dã chiến, đảm bảo cho Việt Nam một lợi thế trên cơ khi một cuộc chiến cục bộ nổ ra trong vùng biển Trường Sa. Trung Quốc biết rõ điều này, các hành vi gây hấn hung hăng của Trung Quốc với tàu cá và các tàu thuyền dân sự Việt Nam do đó chủ yếu diễn ra ở vùng biển quanh Hoàng sa và cửa ngoài vịnh Bắc bộ. Tình thế đảo chiều năm 2014, với lợi thế vượt trội về nguồn lực, Trung Cộng tiến hành đồng thời hai mũi giáp công lấn chiếm chủ quyền. Trong lúc mọi nguồn lực của Việt Nam bị hút vào sự kiện Haiyan 981, một cách âm thầm, Trung Quốc triển khai kế hoạch xây dựng 5 căn cứ quân sự tại Trường Sa. Đảo nhân tạo lớn nhất mà Trung Quốc bồi đắp thậm chí có kích thước vượt quá đảo Ba Bình - đảo tự nhiên lớn nhất Trường Sa, hiện nằm dưới quyền khống chế của Đài Loan. Với 5 đảo nhân tạo có kích thước khổng lồ, đủ để triển khai lực lượng không quân, hải quân và tên lửa phòng không như một căn cứ phòng thủ toàn diện, có thể nói, Trung Cộng đã tiến một bước dài trên biển đông. Chắc chắn Trung Quốc sẽ sử dụng các căn cứ này như một bàn đạp cả cho các hoạt động quân sự và chấp pháp dân sự, điều sẽ khiến chủ quyền Việt Nam bị xâm hại nặng nề và đời sống ngư dân càng thêm khốn khó. Lợi thế về mặt quân sự của Việt Nam do đó gần như bị xoá sổ. Với khoảng cách trên dưới 450 km, Trung Quốc dễ dàng tung cú đấm phủ đầu ác liệt vào tận trung tâm TP Hồ Chí Minh. Từ các đảo này, Trung Quốc cũng dễ dàng sử dụng trực thăng săn ngầm tuần thám, điều có thể triệt tiêu lợi thế của lực lượng tàu ngầm Việt Nam khi tác chiến tại vùng biển Trường Sa, thậm chí là xa hơn về Phú Quốc. Là một nước lớn, đương nhiên nếu xung đột thực sự nổ ra, Trung Quốc sẽ luôn có lợi thế của kẻ giáng đòn phủ đầu, điều có thể khiến các căn cứ quân sự của Việt Nam từ Đà Nẵng trải dài đến Nha Trang phải thiệt hại nặng nề. Cố nhiên, nếu các chiến lược gia Việt Nam đủ bản lĩnh và dũng khí để giáng đòn tấn công phủ đầu, Việt Nam đủ khả năng để xoá sổ toàn bộ các căn cứ liên hoàn của Trung Cộng tại Trường Sa. Tuy nhiên, đây không phải là điều cần bàn tới khi xét đến bản lĩnh nhược tiểu của đám chóp bu cầm quyền hiện nay. Có thể nói, Việt Nam đang ở tình huống ngặt nghèo khi các lợi thế hiếm hoi trên Biển Đông không còn nữa.
 
Đáng ra thực trạng buồn này có thể tránh được nếu Việt Nam kiên quyết quấy rối lực lượng tàu hút cát bồi đảo của Trung Quốc ở Trường Sa như những gì đã làm với giàn khoan 981. Rất đáng buồn, đám tai to Việt Nam lựa chọn khoanh tay, trong lúc gã đại tướng béo ụt đứng đầu Bộ Quốc Phòng phát ngôn trên báo chí "Tôi không hiểu tại sao người Việt Nam cứ ghét Trung Quốc". Dĩ nhiên với những gã béo ụt như thế phụ trách quân sự và vài câu phản đối bằng mồm không thể chặn được tàu hút cát Trung Hoa. Diện tích đảo của Trung Quốc tại Trường Sa ngày một tăng nhanh, xoá đi vài lợi thế nhạt nhoà mà người Việt Nam đang có. Tất nhiên, bằng cách này hay cách khác, giới quân sự Việt Nam vẫn có khả năng so kè sòng phẳng với tàu khựa tại Trường Sa, bằng cách xây dựng lực lượng phòng không hùng hậu cũng như nâng cao nghệ thuật phân tán ngụy trang lực lượng vốn có truyền thống trải dài nhiều năm kháng chiến. Nhưng câu chuyện không còn dễ dàng khi Trung Cộng đã đặt được một hệ thống căn cứ liên hoàn vững chắc.
 
15 năm đã qua sau thời đại Võ Văn Kiệt, giới lãnh đạo Việt Nam lâm vào một thời kỳ khủng hoảng nặng nề về chất lượng. Đám chính khách sau này, phần lớn kém cỏi, yếu quyền lực và thiếu tầm nhìn xa. Lê Khả Phiêu chỉ trụ được nửa nhiệm kỳ và rớt đài vì đấu đá nội bộ. Nông Đức Mạnh là sự lựa chọn sai lầm nhất của giới tập quyền Việt Nam, khi lựa chọn một gã thiếu phẩm chất, yếu tri thức, thiếu tầm nhìn và tầm thường về độ quyết đoán vốn là những thứ tối thiểu mà một người đứng đầu hệ thống chính trị cần phải có. Do hầu như không có gương mặt nổi trội trong hệ thống chính trị, trong hơn 15 năm, quyền lực bị phân đều giữa các phe phái. Nền chính trị Việt Nam chia năm xẻ bảy bởi các phe nhóm kèn kựa lẫn nhau và chưa bao giờ tập trung thành một mối để phụng sự cho sự phát triển quốc gia. Các quyết sách kinh tế sai lầm trong nhiệm kỳ đầu của Nguyễn Tấn Dũng càng làm bức tranh trở nên bi đát. Ngay ở thời điểm hiện tại, nền chinh trị quốc gia tiếp tục bị xâu xé khi dường như Nguyễn Tấn Dũng đã bị chặn lại bởi ngón đòn khá cao tay của Nguyễn Phú Trọng (cài được điều lệ đảng để chặn đường tiến của Dũng vào năm 2016). Trong lúc đó, người Việt Nam phải đối mặt với tình trạng đáng buồn khi đám ứng cử viên lên nắm quyền tiếp sau, thậm chí còn hủ bại và bất tài hơn đám chóp bu hiện nay. Tương lai đất nước do đó tiếp tục đối mặt với một thời kỳ u ám.
 
Giữa một bức tranh buồn, không phải không có những thứ đáng để hy vọng. Kinh tế Việt Nam nam 2015 chắc chắn khởi sắc hơn. Mọi chỉ số vĩ mô và cả yếu tố tâm lý dân cư, đều cho thấy xu hướng đi lên của nền kinh tế. Cuối 2014, đầu 2015 các chuyen gia kinh tế ghi nhận sự phong phú thấy rõ của hàng hoá nội địa, những mặt hàng trước đây hầu như chỉ nhập từ Trung Quốc thì giờ đây đã thấy xuất hiện thương hiệu Việt. Đám tư sản dân tộc, sau một thời gian dài quay cuồng với cơn lốc chứng khoán và bất động sản, giờ đã chú tâm hơn sang lĩnh vực sản xuất, cả về hàng tiêu dùng, hàng phụ trợ lẫn các sản phẩm nông nghiệp. Chúng ta cũng cần ghi nhận một thực tế đáng mừng, người Việt Nam luôn quay lưng với hàng Trung Quốc nếu họ có sự lựa chọn thay thế. Những xu thế đúng đắn này rồi đây sẽ quyết định tiềm lực quốc gia, giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng yếu hèn hiện tại.
 
Nhìn rộng ra thế giới, 2015 vẫn là một năm thuộc về Trung Quốc. Nước Mỹ, châu Âu và Putin sẽ mất ít nhất 1 năm để hạ nhiệt lò lửa tại Ucraine và tái lập lại quan hệ kinh tế song phương. Cả Mỹ, châu Âu hay nước Nga đều thừa thông minh để hiểu rằng tình thế hiện nay gây tổn hại cho tất cả và ngư ông đắc lợi chỉ mình Trung Quốc. Khi nước Nga bị tách rời khỏi châu Âu, nó mất cơ hội trở thành một phần của thế giới văn minh, và việc hợp tác sâu hơn với Trung Quốc chỉ khiến sức mạnh so sánh của Nga yếu dần so với người Tàu. Sau 30 năm, khi dân số Nga xuống dưới 100 tr, người Nga thậm chí còn không đủ tư cách đứng thẳng người trước Trung Quốc, chưa nói gì tới việc đủ nguồn lực để bảo vệ vùng viễn đông mênh mông giàu có. Với nước Mỹ, lò lửa Ucraine càng kéo dài thì càng khiến chiến lược xoay trục về phía Đông tổn hại. Cuối cùng, cả Mỹ và Nga đều sẽ phải nhận ra rằng đối đầu khiến cả hai thiệt hại. Đối thủ của Mỹ trong 20 năm tới, vĩnh viễn không phải là Nga mà chỉ duy nhất Trung Quốc. Thay vì việc nỗ lực đẩy biên giới Nato tới sát Nga, Mỹ và châu Âu cần tính tới các hiệp ước an ninh đủ sức mạnh với Asean và Trung Á. Xu hướng hoà hợp Mỹ, Nga, EU do đó là một tất yếu, nhưng xu hướng này sẽ bị làm chậm lại bởi dư luận xã hội, vốn có một quyền lực riêng biệt ở các nước phương tây.
 
Nhìn sang châu Á, nếu có điều gì đáng mừng thì đó là sự thay đổi bên trong nước Nhật. Từ từ nhưng chắc chắn, Nhật từng bước quay trở lại hình ảnh của một cường quốc "bình thường", vững về cả hai chân thay vì chỉ mạnh về kinh tế. Điều này sẽ khiến an ninh châu Á được cải thiện, hoà bình do đó sẽ vẫn còn được duy trì trong ít năm tới.
 
Sâu trong lòng Trung Hoa, Tập Cận Bình đã đi được quá nửa chặng đường củng cố quyền lực. Có thể nói không ngoa rằng, Tập là người duy nhất sau Mao Trạch Đông dám và có đủ khả năng thanh trừng những nhân vật quyền lực số 2 và số 3 trong hệ thống chính trị Trung Quốc. Quyền lực của Tập thậm chí giờ không thua kém Mao Trạch Đông và giờ ở Trung Hoa không phe nhóm nào có thể thách thức uy quyền họ Tập. Gã Khựa này sẽ trở thành một tay độc tài đầy quyền lực, bởi chẳng có chỉ dấu nào cho thấy Tập chịu để Trung Quốc đi vào lộ trình dân chủ. Tập Cận Bình và Trung Quốc, với mọi dấu hiệu của nó, đang đi theo lộ trình của nước Đức dưới thời Hitler, khi ngày một hùng mạnh, ngày một cực đoan và ngày một tham lam với các lợi ích bên ngoài biên giới quốc gia của nó. Trong 10 năm tới, thế giới rồi đây sẽ phải chung sức ngăn chặn thế chiến lần 3 mà ngòi nổ chính chính là Trung Quốc.
 
Trong các xu thế đang diễn ra, người Việt Nam cần làm gì để sinh tồn giữa những nguy cơ lớn? Cốt yếu nhất và căn bản nhất, người Việt cần dồn nỗ lực xây đắp kinh tế, để tiềm lực quốc gia ngày một nhiều hơn. Không có gì phải bàn cãi, nếu ngày nay GDP Việt Nam là 500 tỷ usd, cố nhiên nó sẽ có đủ khả năng đầu tư 15 tỷ Usd vào lĩnh vực quốc phòng và đủ khả năng gây thiệt hại nặng cho bất cứ cường quốc nào muốn xâm phạm nó. Tuy nhiên chúng ta đang phải đối mặt với thực tế GDP ngót nghét 150 tỷ một năm. Trong vòng 5 năm, nếu đi đúng hướng, người Việt có thể nhân đôi con số này. Do không mấy hy vọng vào sự hỗ trợ kém hiệu năng từ một thể chế suy đồi, anh Lãng gửi gắm niềm tin vào giới tư bản dân tộc, những người trải qua 7 năm điêu tàn, đủ thông minh để nhận rõ một quốc gia chỉ có thể hùng cường khi nó sản xuất được nhiều hàng hoá thay vì những lĩnh vực đầu tư ảo. Về mặt văn hoá, thông điệp cũng như kỳ vọng anh muốn gửi gắm tới các bạn, chúng ta cần ý thức được sự nghèo hèn của quốc gia. Mỗi lần rút ví ra để mua một sản phẩm nhập khẩu đắt tiền, dạng như smart phone hay các đồ xa xỉ, các bạn cần hiểu rằng điều đó đang tước đi một phần cơ hội của con cháu chúng ta. Hãy làm nhiều hơn, ăn chơi ít hơn và tích lũy nhiều hơn. Đừng để xã hội Việt Nam chưa giàu đã suy đồi, thực trạng đáng buồn mà người Việt đang phải chịu đựng.
 
Nếu dân chủ là một xu thế tất yếu thì điều tất yếu hơn là Việt Nam cần thêm một thời kỳ quá độ. Nền chính trị Việt Nam cần một sự thống nhất trong bối cảnh phe phái chia năm xẻ bảy trước khi bước sang một quỹ đạo khác của sự văn minh. Do không thể đặt niềm tin gì vào gương mặt ti tiện của Nguyễn Xuân Phúc, vẻ béo ụt hèn mạt của Phùng Quang Thanh hay vẻ nhu nhược của Nguyễn Thiện Nhân, anh đành đặt niềm tin vào đồng chí X. Kỳ vọng duy nhất hiện nay, 3 X sẽ không chịu bó tay trước điều lệ Đảng mà Trọng lú đã cài cắm thông qua, và tìm được cơ hội trở cờ trước năm 2016.
 
Tuy nhiên, như một điều thường thấy, càng hy vọng bao nhiêu vào hệ thống chính trị suy đồi hiện nay thì sẽ càng thất vọng bấy nhiêu. Thành ra, mọi niềm tin của anh đành gửi gắm vào chính các bạn. Hãy để niềm tin ấy được nhân lên và biến thành động lực, thành những nguồn lực xã hội và những trào lưu mà sự hủ bại không thể chặn lại được. Các bạn văn minh hơn, tầm nhìn xa hơn, tỉnh táo với thời cuộc, có trách nhiệm hơn với gia đình và với tương lai đất nước, bản thân đó sẽ là chìa khóa cho mọi vấn đề. Trước năm 1945, người Pháp mở hàng loạt tiệm hút thuốc phiện và nhà thổ công khai, sau này ông Hồ tố cáo trong bản án thực dân: "Pháp âm mưu ru ngủ và làm thoái hóa giống nòi thanh niên thuộc địa". Ngày nay thanh niên Việt Nam quay cuồng trong một nền văn hóa giải trí dị hợm và suy đồi, thiếu vắng hoàn toàn các giá trị lí tưởng nhưng thừa thãi trụy lạc và đồi bại. Nền văn hóa ấy tồn tại công khai, trong sự kiểm soát của bộ máy truyền thông quốc gia, vốn cấm ngặt mọi trang web bàn luận về chính trị và chỉ trích chính quyền, nhưng buông tay cho mọi thứ còn lại, bất cứ thứ gì có thể khiến đám thanh niên xao nhãng ý thức chính trị quốc gia: sex, hưởng lạc, game online ... Nhiều trang web và mạng xã hội giải trí hiện nay có nguồn gốc từ Trung Quốc, một sự phối hợp tuyệt hảo. Trong lúc đó, thực phẩm độc và hóa chất có nguồn gốc từ Tàu thì còn tàn phá giống nòi người Việt với quy mô ác liệt nhiều lần so với khói á phiện thời Pháp thuộc.
 
Chẳng có cái gì có thể cứu chính bạn và gia đình, cứu chính tương lai đất nước này ngoài các bạn, ngoài tri thức, sự hiểu biết và thức tỉnh ý thức xã hội của chính bạn. Dù có thể bạn chỉ là bò :P
 
Chỉ có vậy, đất nước này mới có cơ may vãn hồi hy vọng.

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Ucraina và câu chuyện Việt Nam

Ngày 05/09/2014 Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko buộc phải ký với lãnh tụ phe ly khai Donetsk một thỏa thuận ngừng bắn 12 điểm. Thoả thuận này, được thành hình sau cuộc điện đàm giữa Putin và ông Poroshenko trước đó một ngày. Tình thế đến giờ đã quá rõ, người nắm thế cờ thực sự ở Ukraine không phải Obama, không phải Nato, càng không phải vị chính trị gia lên nắm quyền sau cuộc bạo động ở Maidan, mà chỉ có duy nhất một, chính là Putin.

Tình thế ở Ukraine thay đổi chóng mặt chỉ trong một năm. Nếu mục tiêu của ông Putin trước đây, chỉ thuần tuý là muốn duy trì một chính phủ không quá ngả về phương tây ở Ukraine, và duy trì được hạm đội biển đen ở Crimea càng lâu càng tốt, ngày nay, tham vọng của Putin lớn hơn thế rất nhiều. Không những đã sát nhập Crimea vào Nga, Putin đang nhắm tới việc chia cắt lãnh thổ Ukraine bằng việc ủng hộ và duy trì lãnh thổ li khai ở phía đông đất nước này. Với việc quân li khai hiện đã đứng vững chân tại Donetsk, Luhank và một loạt lãnh thổ nằm sát biên giới Nga, có thể nói câu chuyện đã được an bài.

Có thể nói, giới hoạch định chiến lược tại Nato và Mỹ là thủ phạm trực tiếp gây nên hậu quả hôm nay tại Ukraine. Cố nhiên, bức tranh bi đát về nền độc lập bị xâu xé lần này còn nằm ở chính sai lầm tích tụ trong nhiều năm của chính giới Ukraine. Kể từ khi giành được độc lập năm 1991, Ukraine không làm được gì nhiều để giảm bớt sự lệ thuộc kinh tế vào liên bang Nga. Không những không thể sống thiếu dòng khí đốt được cung cấp từ Nga, mà nếu thiếu nó, quá nửa dân số Ukraine chết rét trong mùa đông, một loạt lĩnh vực kinh tế chủ chốt của Ukraine cũng phụ thuộc chặt chẽ vào Nga. Tình trạng tham nhũng nặng nề trong nhiều thập niên càng khiến bức tranh của đất nước này thêm phần bi đát. Có thể nói, Ukraine chưa sẵn sàng về mọi phương diện để thoát được khỏi liên bang Nga. Giữa lúc đó, guồng máy của các chiến lược gia Nato và Mỹ khởi  động với tham vọng sâu xa, đẩy biên giới Nato tiến sát lãnh thổ Nga, nhằm vô hiệu hoá và xoá xổ Nga với tư cách một siêu cường có khả năng đe dọa an ninh toàn khối. Đây là một mục tiêu tham lam, ảo tưởng, tiếp nối chuỗi sai lầm về mặt chiến lược kéo dài hai thập niên của giới tinh hoa kỹ trị phương tây. 

Có thể nói, Mỹ và phương tây đã hoàn toàn sai lầm trong phương cách ứng xử với nước Nga. Trên thực tế, Putin là một gã thông minh và không phải không biết điều. Trong suốt những năm tháng cầm quyền của mình, Putin nhiều lần nhân nhượng, tìm cách gắn kết chặt chẽ hơn đất nước mình với phần văn minh của phương Tây. Dù muốn dù không, Nga là một đất nước thuộc châu Âu, có dân số ngày một chết dần do suất sinh thấp, và lãnh thổ với diện tích đứng đầu thế giới. Putin và nước Nga không có động cơ cũng như tham vọng đe dọa các nước khác về lãnh thổ. Tuy nhiên, chính Nato và. Mỹ, bằng việc liên tục vi phạm thỏa nước năm 1997, theo đó Nato cam kết không mở rộng biên giới về các nước đông Âu, khiến Ngã cảm thấy bị chơi xỏ và ngày một bị đe dọa. Châu Âu đáng ra có Nga là một thành viên, gắn kết và hoà bình, thì chính bởi những tính toán sai lầm của các nhà hoạch định chiến lược, từng bước dồn Putin đến con đường hiếu chiến và cực đoan.

Cách đây 20 năm, giới kỹ trị phương Tây sai lầm trong đánh giá thế cuộc toàn cầu, dẫn tới việc Mỹ dồn nỗ lực trong nhiều năm chèn ép thế giới hồi giáo, tiến hành ba cuộc chiến tranh lớn tiêu tốn vài nghìn tỷ đô la,đẩy nước Mỹ lún sâu vào vòng xoáy nợ lần. Trong lúc đó, mối đe dọa lớn nhất của trật tự thế giới cũ là Trung Quốc tận dụng đủ mọi thời cơ và ung dung vươn lên thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ và châu Âu. Nước Mỹ suy yếu và bừng tỉnh, tìm cách xoay trục sang á châu. Nhưng một lần nữa, giới tinh hoa kỹ trị của họ phạm sai lầm, khi thổi phồng hứa hẹn quá nhiều cho đám chính trị gia tham nhũng Ukraine, khiến đất nước này có nguy cơ biến thành một chiến trường mới và tột độ nguy hiểm với Nato. Chiến tranh sẽ không xảy ra, nước Nga quá mạnh về quân sự để tự vệ ở thời điểm này. Nhưng quan hệ Nga, Mỹ, Nato và châu âu bị sứt mẻ hơn bao giờ hết. Nỗ lực hơn hai thập niên để xây dựng quan hệ hoà nhập giữa Nga và châu Âu giờ đây đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn. Nước Nga bị cô lập buộc phải tiến xa hơn về phía đông, nhượng bộ nhiều đòi hỏi của đối thủ nguy hiểm nhất cho trật tựu thế giới cũ, chính là Trung Quốc. Có thể nói, căng thẳng ngày hôm nay ở Ukraine không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước này, làm tổn hại nước Nga và hầu hết thế giới phương Tây. Putin có thể đạt một số thắng lợi về chiến thuật trước phương tây, bao gồm sát nhập được Crimea, duy trì ảnh hưởng tại Ukrane, nhưng thất bại về chiến lược khi làm đổ vỡ mối quan hệ với phần văn minh của thế giới. Và cả Nga, Mỹ cũng như châu âu đều thất bại về chiến lược trước Trung Quốc.

Đến giờ cần nhìn nhận lại để trả lời câu hỏi, tại sao Ukraine thất bại trong nỗ lực thoát Nga? Và diễn biến mới về trật tự thế giới có ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam? Đây là điều duy nhất anh Lãng quan tâm, chứ còn bọn Nga Mỹ thọi nhau ở tận đâu đâu anh Lãng quan tâm làm đéo.

Có ba lý do trực tiếp dẫn đến bi kịch hôm nay của Ukraine, nhiều điểm trong số đó sẽ khiến chúng ta phải giật mình khi đối chiếu lại quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Ngay ở thời điểm Liên Xô tan rã năm 1991, một chiến lược gia có tầm nhìn vượt thời đại của Nga đã phát biểu: lượng dân Nga sống rải rác ở các quốc gia thuộc liên xô cũ, sẽ là một phần tài sản quí báu của sức mạnh Nga. Sức mạnh này sẽ được tính toán đến trong sự trỗi dậy của nước Nga, hoặc khi mọi đối thủ đe dọa đến quyền lợi sinh tồn của nó. Tầm nhìn này đã được thực tế chứng minh sau 20 năm. Những gì diễn ra ở Gruzia, apkhazia, moldova và giờ đây là Ukraine đã chứng tỏ điều này. Nga dễ dàng sát nhập Crimea, dựng ra lãnh thổ li khai ở Đông Ukraine vì đơn giản có quá nhiều người Nga ở những lãnh thổ này. Putin dễ dàng dựng ra lực lượng li khai với đa số người Nga. Và với biên giới nằm sát ngay các lãnh thổ này, Putin hà hơi cho các lực lượng này với tham vọng ngày một gia tăng theo lợi thế chiến trường, và khi cần, dễ dàng cử quân đội tham chiến âm thầm để xoay chuyển tuyệt đối chiến cuộc. Nhìn vào thực tế này, người Việt phải giật mình thon thót vì sự hiện diện ngày càng đông của người Trung Quốc tại Việt Nam. Với tình trạng lao động phổ thông Trung Quốc vào Việt Nam ngay một nhiều theo thời gian, viễn cảnh hình thành những khu phố Trung Quốc đã là một thực trạng ngày một nguy hiểm. Nếu tình hình không được kiểm soát, thì việc Trung Quốc áp dụng chiêu bài tương tự ở Việt Nam là một hiểm họa không mấy xa xôi.

Lý do thứ hai cho bi kịch hôm nay của Ukraine, chính là tinh trạng phụ thuộc quá nặng nề của nền kinh tế Ukraine vào liên bang Nga. Trong nhiều năm, do lệ thuộc căn cứ ở Crimea, nước Nga bán khí đốt cho Ukraine với mức giá như thời liên xô cũ. Chính giới Ukraine luôn tìm cách thoát khỏi Nga, nhưng lại không làm được gì nhiều để chấm dứt sự lệ thuộc này. Thiếu khí đốt Nga, một nửa Ukraine chết rét trong mùa đông. Nhiều ngành kinh tế chủ chốt của Ukraine lệ thuộc chặt chẽ vào Nga. Với tình hình đó, đám chính giới Ukraine hô hào gia nhập Nato, có thể re nói là một điều cực kỳ ngu xuẩn. Ukraine xây dựng tham vọng thoát Nga từ trên nóc, chứ không giống Ba Lan, xây dựng được một nền kinh tế tự chủ trước khi tái hoà nhập châu Âu. Đáng ra Ukraine cần tìm kiếm nguồn cung khí đốt từ Na Uy hay các phần còn lại của thế giới trong một kế hoạch năm năm trước khi hô hào ngu xuẩn về giấc mộng gia nhập Nato. Đến đây, lại một lần nữa người Việt Nam phải thấy giật mình. Dù rằng Việt Nam không đến nỗi lệ thuộc chết sống về mặt kinh tế với Trung Quốc, nhưng với tình trạng nhập siêu ngày một gia tăng theo cấp số nhân hàng năm trong buôn bán với Trung Hoa, trong bối cảnh hàng hoá Trung Quốc tràn ngập và bóp chết nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, thì mối nguy có tính sinh tồn của người Việt ngày một lớn. Có thể nói, chủ chương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, khi tiếp tục nhấn mạnh và tìm cách thắt chặt quan hệ kinh tế bất bình đẳng với Trung Quốc, đang dần đẩy Việt Nam tới tình trạng tương tự Ukraine trước Nga. Quá trình này, trước sau cũng đẩy tương lai Việt Nam xuống đáy vực thẳm.

Lý do thứ ba dẫn tới tình trạng hôm nay ở Ukraine, nằm chính ở tình trạng tham nhũng nặng nề trong suốt hai thập niên của bộ máy chính quyền. Giới chức Ukraine tham nhũng không chừa bất cứ thứ gì, điều hoàn toàn giống như ở Việt Nam hiện nay. Điều đó dẫn tới việc người dân Ukraine khao khát sự thay đổi. Sống trong lòng châu Âu, họ khao khát các giá trị mà người dân phương tây đang được hưởng. Do thiếu sự định hướng của những nhà tư tưởng có tầm nhìn xa, khao khát của người dân Ukraine rơi vào vòng xoáy của những giấc mơ thiếu thực tiễn. Cuộc cách mạng tại Maidan thể hiện niềm khao khát với các giá trị văn minh, nhưng đám đông thiếu định hướng không chọn cho họ được những đại diện có phẩm chất xứng đáng trong một tình huống ngặt nghèo. Với đám chính khách nghiệp dư lên nắm quyền sau bạo động, Ukraine lien tiếp gặp sai lầm và thúc đẩy cho tham vọng của Putin. Người Ukraine đã mất crimea và đang đứng trước nguy cơ của sự chia cắt kéo dài. Bức tranh này cũng đang hiện hữu tại Việt Nam, khi đám đông dân chúng ngày một chán ngán với chính thể tham nhũng và một đảng cai trị độc tài hủ bại. Người Việt Nam cần có tầm nhìn xa, với lối suy nghĩ cấp tiến nhưng phải có giá trị thực tiễn.

Nếu có điều gì khiến tình trạng Ukraine thêm bi đát, thì chính là năng lực quá kém cỏi của lực lượng quân đội nước này. Bạc nhược, kém kỷ luật và tinh thần rệu rã, quân đội Ukraine hầu như không có khả năng tham chiến về mặt quy ước. Ở Crimea, quân đội Ukraine từ chối chiến đấu, ở Donetsk và Luhan, Chiến cục Ukraine nhanh chóng đảo chiều khi Putin cử vài nghìn lính ngụy trang tình nguyện giao tranh trực tiếp với Ukraine. Chính sự bạc nhược của quân đội Ukraine khiến Putin quyết đoán hơn với các đòi hỏi ngày một tham vọng hơn về chính trị và lãnh thổ. Đối chiếu với tình hình Việt Nam, chúng ta có một đạo quân có nhiều danh tiếng trong chiến tranh. Anh Lãng không mấy nghi ngờ tinh thần của những người lính trực tiếp ở chiến trường. Hãy nhìn vào những gì lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư Việt Nam đã làm trong hơn 70 ngày lăn xả chặn mũi hạm tàu Khựa. Tuy nhiên, lực lượng lãnh đạo nó hiện nay, gồm một số tướng tá béo ụt đang nắm quyền, trong bối cảnh hầu hết các vị tướng dạn dày kinh nghiệm đã chết hoặc nghỉ hưu, trong tình trạng tham nhũng lan tràn đã trở thành đặc trưng của chế độ, có nhiều lý do để nghi ngờ năng lực tác chiến của quân đội Việt Nam. Dù vậy, anh Lãng vẫn cho rằng, lực lượng đáng tin cậy nhất mà người Việt Nam có thể trông cậy, chính là lực lượng quân đội với truyền thống bất khuất, được phôi thai bởi một dân tộc không thiếu niềm tự hào. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi các chiến dịch được lãnh đạo bởi một số những thằng ngu, thì tổn thất của người Việt lớn vô cùng và mọi chiến thắng phải đổi bằng nhiều triệu sinh mạng.

Thế giới ngày nay đang ngày một bất ổn. Đại chiến thế giới lần thứ ba không còn là một nguy cơ mà đang là một bóng ma lẩn khuất trước mắt nhân loại. Nước Mỹ và phương tây vẫn trên đà trượt dài về quyền lực. Hơn thế, đang phạm sai lầm về mặt chiến lược trong việc lựa chọn đối thủ. Điều đó khiến châu Âu đang sai lầm trong cách cư xử ở Đông Âu và với nước Nga, khiến họ tạo một kẻ thù nguy hiểm thay vì có Nga như một phần của châu Âu. Và điều quan trọng hơn, tình trạng ấy đẩy cả Mỹ, Nga và Tây Âu vào một sai lầm chiến lược: Nga buộc phải bắt tay và lệ thuộc sâu hơn vào Trung Quốc, các nguồn lực của Mỹ và phương Tây bị phân tán, trong khi Trung Quốc ngày càng có nhiều lợi thế và chộp được những cơ hội béo bở hơn cho tham vọng xâm lược và thôn tính lãnh thổ của nó. Chính Trung Quốc, chứ không phải Nga hay thế giới hồi giáo cực đoan, là hiểm họa lớn nhất cho một cuộc thế chiến có thể nhấn chìm nhân loại với tham vọng ngày một hung hăng với sức mạnh gia tăng của nó.

Nhìn kỹ vào thời cuộc, có thể giúp chúng ta tìm được lời giải cho mọi vấn đề. Tuy nhiên, đáng tiếc chính thể hủ bại của Việt Nam đang ngày một tước dần hy vọng thoát Khựa và hùng cường của người Việt. Chúng ta chưa mất tất, nhưng nguy cơ không còn xa xôi.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Việt Nam - Trung Quốc, một lịch sử đau thương.

Lịch sử bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc là một trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Nó được phủ bóng với mật độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược (từ Trung Quốc) và chống xâm lược (từ Việt Nam), với một tần suất mà không có bất kỳ trường hợp nào khác có thể so sánh. 

Tính từ thế kỷ thứ 10 đến nay, không dưới 10 lần người Việt phai chịu đựng các cuộc tiến công xâm lăng từ phương Bắc. Năm 938 Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Người Việt được hưởng hoà bình ít năm, cho đến năm 981, Lê Hoàn phá tan quân Tống. Sang thế kỷ thứ 11, Lý Thường Kiệt mang quân đại phá Ung Châu và lui về đắp lũy trên sông Như Nguyệt. Chiến thắng này của nhà Lý mang lại hoà bình cho Việt Nam đến thế kỷ thứ 13. Từ năm 1258 đến 1288, trong ngắn ngủi có 30 năm, người Việt Nam phải hứng chịu ba cuộc xâm lược tàn bạo đến từ Trung Quốc. Đạo quân xâm lược từ phương Bắc quay lại vào năm 1404. Lần này phải mất 23 năm, đến năm 1427 người Việt mới giành lại được độc lập dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi. Đây cũng là lần xâm lược để lại hậu quả đau thương nhất cho văn minh người Việt, khi Trung Quốc thực hiện việc đốt phá kinh sách, đập phá văn bia trong suốt những năm chiếm đóng nhằm hủy diệt văn hoá và đồng hoá Việt Nam. Sang thế kỷ thứ 18, Trung Quốc một lần nữa xua quân chiếm kinh đô Thăng Long. Lần này chúng gặp một đối thủ cứng cựa là vua Quang Trung, bị đánh tan tác và phải tháo chạy về nước sau ít tháng. Cuộc đô hộ 80 năm của Pháp ở Việt Nam khiến các đạo quân xâm lăng phương Bắc bị gián đoạn trong một khoảng thời gian. Đến năm 1974, chúng quay lại chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Năm năm sau đó, 30 vạn quân Trung Quốc tràn xuống phía Bắc. Bị chặn lại và phải tháo lui, tuy nhiên tình trạng chiến tranh còn bị duy trì đến tận những năm 1990. Năm 1988, Trung Quốc xua hải quân chiếm đóng một phần Trường Sa. Đến năm 2014, Trung Quốc xua hạm đội và giàn khoan cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam, trong một mưu đồ xâm lăng không hề che dấu.

Có thể nói, ý đồ Nam tiến của Trung Quốc, chưa bao giờ phai nhạt trong suốt lịch sử tồn tại của nó. Đây là một mục tiêu xuyên suốt và luôn được kế thừa bởi mọi triều đại nắm quyền tại Bắc Kinh. Ở đây có một liên tưởng lịch sử khá khôi hài là Trung Quốc nhiều lần lớn tiếng đòi Nhật Bản phải hối lỗi về quá khứ xâm lăng trong thế chiến thứ hai. Nhật chiếm đóng Trung Quốc đến nay chỉ duy nhất có một lần. Trong khi nếu nhìn vào mật độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược Trung Quốc tiến hành với Việt Nam, có thể nói đất nước có ít tư cách đòi hỏi người khác phải hối lỗi vì chiến tranh xâm lăng nhất chính là Trung Quốc.

Hầu hết các nước châu Á sống cạnh Trung Quốc đều đối mặt với nguy cơ bị xâm lược. Họ chỉ thoát khỏi bóng ma ám ảnh này khi thật sự mạnh lên và thành công trong tiến trình hội nhập với nền văn minh phương tây. Ngày nay, dù phải đối mặt với một vài nguy cơ xung đột về lãnh hải, nhưng Nhật Bản và Hàn Quốc đều khá an toàn với niềm lực kinh tế hùng hậu và những mối quan hệ đồng minh thân thiết giúp đảm bảo an ninh. Ngược lại, quốc gia đang đứng trước nguy cơ bị xâm lăng ( về lãnh thổ) và thôn tính (về mặt kinh tế) nặng nề nhất tại Á Châu chính là Việt Nam. Có thể nói, chưa bao giờ tương lai của người dân Việt Nam bị đe dọa và thách thức như hiện nay, khi trên biển giàn khoan và hạm đội Trung Quốc đang ngày một tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam, còn về mặt kinh tế, Trung Quốc gần như đã biến Việt Nam thành một nền kinh tế phái sinh, lệ thuộc nặng nề và trở thành một công cụ giúp Trung Quốc gia tăng trên 20 tỷ USD thặng dư thương mại hàng năm. 

Trong bối cảnh ấy, cơ may cho Việt Nam đến từ Shangri la, một hội nghị an ninh toàn cầu được tổ chức tại Singapore, nơi Trung Quốc phải chịu những đòn lên án nặng nề từ hầu hết các nước tham dự do dã tâm xâm lược của nó. Việt Nam đến hội nghị với sự dẫn đoàn của ông Phùng Quang Thanh, đương kim bộ trưởng Quốc Phòng. Thông điệp của ông Thanh khá mù mờ và méo mó, khiến nhiều nước tham dự hội nghị không rõ Việt Nam đang thực sự muốn gì. Dường như xuyên suốt tham luận của ông Thanh, chỉ là mong muốn Trung Quốc kéo giàn khoan về, còn mọi thực trạng giữa Trung Quốc với Việt Nam hiện tại đều đáng hài lòng, như nhận xét ông ta nhiều lần nhất mạnh. Vị đại tướng béo tốt này có vẻ không tính đến thực tế bất lợi gần như tuyệt đối trong giao thương với Trung Quốc của Việt Nam hiện nay. Ông ta có vẻ cũng không tính tới thực tế là nhiều quốc gia khác đang muốn liên minh hay hỗ trợ Việt Nam, sẽ phai e ngại thực tế bị Việt Nam bán đứng nếu Trung Quốc chìa tay ra giúp xoa dịu để Việt Nam duy trì nguyên trạng sau khi đọc diễn văn của ông ta tại hội nghị. Cảm giác rõ nét nhất là tính rối rắm trong thông điệp của ông Thanh. Có thể nói viên tướng béo tốt này có ít khí chất của một quân nhân nhất so với những người tiền nhiệm của ông ta, vốn đều từng được tôi luyện trong các cuộc chiến chống ngoại xâm liên tiếp của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Nếu ông Thanh muốn gửi đến Trung Quốc một thông điệp mềm mỏng có phần quỵ lụy, ông ta đã làm tốt và thành công vượt mức mong đợi. Ngược lại, những quốc gia đang trông đợi ở Việt Nam một thông điệp ngoại giao đơn giản và rõ ràng, ít nhiều sẽ thất vọng. Chắc chắn họ sẽ phải tính toán kỹ trong bài toán liên minh hay trợ giúp Việt Nam, vì nếu lịch sử Việt Nam lừng tiếng với những vị tướng chống ngoại xâm, thì nó cũng có không ít vết đen bởi những cái tên bán nước như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống hay mới đây hơn là Hoàng Văn Hoan.

Trong những ngày gần đây, có lẽ thứ đang được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam, là hai câu hỏi: Làm sao để Trung Quốc rút giàn khoan? Và làm sao thoát Khựa?

Nếu câu hỏi thứ nhất là dễ trả lời bởi kiểu gì Trung Quốc cũng sẽ rút trước mùa bão năm nay. Nhưng chúng sẽ quay lại, đông hơn, mạnh hơn nếu người Việt không trả lời được câu hỏi thứ hai: Làm sao thoát Khựa? Thoát về kinh tế, thoát về ngoại giao, thoát về bản sắc văn hoá, thoát về chính trị và đương nhiên mạnh mẽ về quân sự để tự bảo vệ được mình.

Có khá nhiều ý kiến và tranh luận sôi nổi của giới trí thức Việt Nam, những người có tầm nhìn xa, về các giải pháp để thoát dần khỏi sự lệ thuộc kinh tế, về các cải cách cần thiết đối với hệ thống chính trị, về các mối liên minh chính trị, quân sự, ngoại giao tiềm năng... Hầu hết đều nói đúng, nhưng thứ quan trọng nhất thì không thấy ai đề cập đến: Ai sẽ làm, hoặc cho phép làm tất cả những giải pháp và định hướng đúng đắn ấy?

Câu chuyện quay ngược trở về xuất phát điểm ban đầu: Mục tiêu của chế độ chính trị Việt Nam hiện nay, họ đang muốn cái gì?

Họ muốn đất nước đi lên? Họ muốn Việt Nam độc lập, hùng mạnh? Hay đơn giản là mong muốn duy trì quyền cai trị và đặc lợi càng lâu càng tốt?

Trong hai mươi năm qua, có thể nói chế độ chính trị Việt Nam rất thành công khi củng cố quyền cai trị tuyệt đối trên một nền tảng hủ bại về lý tưởng. Kết quả là Việt Nam có một nền kinh tế ì ạch rất nhiều so với tiềm năng, mức độ tham nhũng gia tăng theo cấp số và kinh tế ngày một lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Nếu chế độ chính trị của Việt Nam vẫn tiếp tục như hiện nay, tương lai tất yếu của chúng ta sẽ là Tân Cương hay Tây Tạng. Lối thoát duy nhất, là những cải cách cần thiết để Việt Nam thoát Khựa thành công, là sự gắn kết về kinh tế, chính trị, văn hoá với Nhật, Mỹ và Phương Tây.

Nếu có điều gì người Việt cần phải làm trong thời khắc sống còn này, chính là làm mọi điều có thể để biến cái mong muốn đó thành hiện thực. (Phần này anh Lãng lược bỏ 5000 chữ và sẽ viết riêng trong một thiên Lãng luận có tiêu đề "Giải pháp" hoặc "làm cái đéo gì giờ?")

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Thoát Khựa luận

Thoát Khựa Luận:
Tháng 05/2014, trong bối cảnh quyền sinh tồn của người Việt đang bị đe doạ

Cách đây 119 năm, Fuzukawa Yukichi đăng tải một luận thuyết mà sau đó có tác động lịch sử đối với đất nước Nhật Bản. Tiêu đề của nó, cũng đồng thời bao hàm chính nội dung mà nó truyền tải: "Thoát Á Luận".

Bối cảnh lịch sử Nhật Bản năm 1895, về cơ bản khá giống với vị thế Việt Nam trên thế giới vào năm 2014. Nước Nhật năm 1895, dù đã trải qua thời kỳ của cuộc cách mạng Minh trị Duy tân, nhưng vẫn là một quốc gia gần như vô danh trên bản đồ thế giới. Để đem lại một sức sống mới cho xã hội và nền văn minh Nhật Bản, các nhà tư tưởng và chính trị Nhật Bản gia sức tìm tòi một hướng đi mới cho đất nước mình. Thoát Á Luận của Fuzukawa Yukichi ra đời trong bối cảnh đó, và nó mang trong minh một sứ mệnh lịch sử. Từ những phân tích về bối cảnh và lịch sử Nhật Bản những năm 1880, Fuzukawa đưa ra một luận thuyết để biến đổi lịch sử Nhật Bản, phá bỏ đi những rào cản cũ, cả về kinh tế, chính trị và văn hoá mang màu sắc lạc hậu của một quốc gia phong kiến Á Châu, để hướng về những giá trị và mô hình cách tân hơn, đại diện cho xu hướng phát triển tất yếu của thời đại. Nhật Bản sau đó bước vào một thời kỳ phát triển vũ bão. Đó là quốc gia duy nhất ở Á Châu tham gia cả hai cuộc đại chiến thế giới đều với vai trò cường quốc, sánh ngang với các đồng minh hay đối thủ ở phương tây. Và dù thắng hoặc bại sau chiến tranh, nước Nhật cuối cùng vẫn góp mặt trên bản đồ thế giới với tư cách của một cường quốc.

Vai trò của một học thuyết đúng, và quan trọng là học thuyết ấy được thực thi, có thể nói, sẽ có sứ mệnh quyết định đến lịch sử của một dân tộc.

Ở đây chúng ta gặp phải một cản trở căn bản, không thể so sánh một dân tộc nào khác với dân tộc Nhật Bản ở Á Châu, do đó điều gì là đúng với Nhật Bản sẽ không thể đúng với chúng ta. Lập luận này có cơ sở riêng của nó nếu nhìn nhận vào tố chất con người Việt Nam và Nhật Bản. Tuy nhiên, anh Lãng có cách nghĩ khác. Từ ví dụ về lịch sử của nhiều quốc gia, trong đó có chính Việt Nam, cho thấy vai trò có tính quyết định của mô hình thể chế, mà linh hồn của nó là hệ tư tưởng, đối với sự phát triển của một xã hội. Nhật Bản ngày nay vĩ đại và được coi trọng, không phải vì tố chất tự thân của người Nhật, cái chắc chắn được hình thành và thay đổi theo thời gian trên cơ sở giáo dục và văn hoá, mà là vì những thành tựu nước Nhật đã đạt được, vì ở những thời khắc bước ngoặt của lịch sử, đất nước ấy và những người lãnh đạo của nó đã có những lựa chọn đúng.

Một ví dụ minh họa khác có thể thấy rất rõ từ lịch sử đất nước Triều Tiên, mà ngày nay chúng ta phải gọi đúng tên là Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc. Đây là hai quốc gia được tách làm đôi từ một đất nước thống nhất, có cùng nguồn gốc văn hoá, lịch sử và nguồn ADN di truyền của cùng một dân tộc. Tuy nhiên chỉ sau một quãng thời gian trên 60 năm, giờ đây đó là hai mặt của một bức tranh tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Hàn Quốc giờ là một trong số quốc gia dẫn đầu thế giới về trình độ phát triển và các tiêu chí của nền văn minh, trong khi Bắc Triều Tiên giờ là mặt trái của sự tụt hậu, đói nghèo, cuồng tín dưới sự cai trị của một mô hình quái đản lai căng giữa độc tài, phát xít và phong kiến cha truyền con nối, được gọi dưới cái vỏ đáng ghê sợ của mô hình ảo tưởng xã hội cộng sản.

Rõ ràng, những ví dụ ấy chứng minh rằng, tố chất của một quốc gia dân tộc không có vai trò quyết định đến những thành tựu mà một quốc gia dân tộc có thể đạt được, mà chính những quyết định lịch sử và những mô hình đúng được áp dụng ở những thời khắc lịch sử, sẽ quyết định những thành tựu của một quốc gia. Nói cách khác, bất cứ dân tộc nào còn giữ được văn hoá và tiếng nói trong bản đồ thế giới ngày nay, đều là những dân tộc vĩ đại vì họ đã duy trì được sự tồn tại của mình sau các biến cố lịch sử, nhưng dân tộc ấy, đất nước ấy đạt được thành tựu gì thì lại phụ thuộc chặt chẽ vào mô hình phát triển và các quyết định lịch sử mà hệ thống chính trị của nó có được ở những thời khắc quyết định. Nước Nhật không vĩ đại như hiện nay nếu họ tiếp tục bấu víu vào những tàn tích lạc hậu mà không hướng về phương tây, và dân Bắc Triều Tiên không ngu muội và chết đói như hiện nay nếu Kim Nhật Thành lựa chọn mô hình giống miền Nam thay vì bám chân Liên Xô và Trung Quốc.

Dân tộc Việt Nam đầy rẫy những tật xấu đáng ghê sợ, nhưng nó cũng tạo ra vô số chứng tích đáng tự hào trong suốt lịch sử tồn tại. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn đang vật lộn trong sự chậm tiến và đói nghèo, chịu sự o ép và khinh khi. Mà nguy cấp nhất, đáng sợ nhất, chính là mối nguy về cuộc xâm lăng của Trung Quốc. Chúng ta không thể cứ bấu víu mãi vào lịch sử đấu tranh độc lập lâu dài và cho rằng Việt Nam sẽ vẫn mãi độc lập như một nghìn năm nay vẫn thế. Nếu dân tộc này không có những lựa chọn đúng, thì Tân Cương và Tây Tạng chính là tương lai của Việt Nam, khi đã đánh mất cả nền độc lập, nền văn hoá và thậm chí là cả quyền sinh tồn bình đẳng trên chính mảnh đất chôn rau cắt rốn của họ.

Việt Nam năm 2014 đang đứng ở bối cảnh của một quốc gia cô đơn, không bạn bè, không đồng minh, nền kinh tế phát triển ì ạch, nền chính trị độc tài tham nhũng, chịu sự đe doạ nặng nề về hiểm hoạ xâm lăng. Nguy hại hơn, nền kinh tế Việt Nam hiện giờ đang lệ thuộc chặt chẽ vào chính mối nguy cơ lớn nhất của nó, chính là Tàu Khựa. Một tương lai tăm tối đang chờ đón người Việt, nếu những quyết định lịch sử không được đưa ra ở ngay thời khắc này.

Giống như hai mặt của cùng một vấn đề, hiểm hoạ cũng luôn đi kèm cơ hội. Trên thực tế cuộc xâm lược mềm của Trung Quốc với Việt Nam đã diễn ra âm thầm trong hơn 20 năm qua. Tàu Khựa thành công trong việc trói chặt và bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam, biến Việt Nam thành một công cụ xuất khẩu phái sinh cho hàng hoá Trung Quốc. Các chính sách phá hoại thâm độc như bán hàng độc hại, các hoạt động buôn bán phá hoại của tình báo đội lốt thương nhân Tàu đã làm thoái hoá từ từ nhưng vững chắc sức khoẻ và giống nòi của người Việt Nam. Những nghiên cứu gần đây nhất đều chỉ rõ những thống kê đáng báo động về tỷ lệ dị tật thai nhi, các bất thường trong sinh sản và đặc biệt là tỷ lệ vô sinh không rõ nguyên nhân của người Việt Nam. Có thể nói, chúng ta đang chịu một cuộc diệt chủng từ từ nhưng chắc chắn từ các chính sách tổng hợp của người Trung Quốc. Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục áp dụng chiến lược đáng sợ này, trong vòng 20 năm tới, nhiều khả năng Việt Nam sẽ là một Tân Cương mới hay Tây Tạng. Tuy nhiên với bản chất hiếu chiến, tham lam và khát máu, tự tin với sức mạnh vượt trội, năm 2014 Trung Quốc xua chiến hạm xuống biển đông, mở ra một thời kỳ của một cuộc xâm lăng công khai đầy đe doạ với Việt Nam. Nguy cơ lớn này, ở một khía cạnh nào đó, lại chính là cơ hội lịch sử của người Việt.

Chúng ta đang đang đứng trước nguy cơ của một thời kỳ mà một cuộc xâm lăng bằng quân sự có thể nổ ra. Đó là một hiểm hoạ có tính sinh tồn nhưng chắc chắn người Việt sẽ đối phó được. Mặt khác, người Việt đang đứng trước một cơ hội lịch sử để thoát khỏi cuộc xâm lược âm thầm và cuộc chiến thoái hoá giống nòi mà Trung Quốc âm thầm áp dụng trong suốt 20 năm qua.

Đó chính là tiền đề của những gì anh Lãng nói tới ở đây, một luận thuyết có thể được gọi tên là "Thoát Khựa luận"

Tiền đề của luận thuyết này được xây dựng trên một số nguyên tắc có tính nền tảng:

1. Chấm dứt hoạt động kinh tế lệ thuộc nặng nề vào nền kinh tế Trung Quốc.

2. Thay đổi hệ thống chính trị, thậm chỉ là đạp đổ thiết chế hiện nay để xây dựng một thể chế mới, cho phép Việt Nam xây dựng được quan hệ đồng minh với các xã hội phát triển phương tây.

3. Chấm dứt luận thuyết đối ngoại có tính ảo tưởng: Việt Nam phát triển độc lập, tự chủ, làm bạn với tất cả các quốc gia (thực ra chẳng có bạn mẹ nào, mà chỉ có quan hệ làm ăn dạng cùng có lợi hoặc là bất lợi), chuyển sang việc tìm kiếm các mối quan hệ đồng minh, xây dựng và tham gia các hiệp ước liên minh và an ninh tập thể với những đối tác có cùng lợi ích.

Đây là một cuộc cách mạng, nó có thể được tiến hành từ trên xuống như những gì đã diễn ra ơ Mianma, hoặc phải được tiến hành từ dưới lên bằng một cuộc đấu tranh của toàn thể người Việt. Nếu có điều gì đáng kỳ vọng nhất đối với tương lai của Việt Nam hiện nay, anh Lãng kỳ vọng cuộc cách mạng ấy sẽ được bắt đầu bởi chính thể chế cầm quyền hiện nay, một mong muốn có phần ảo tưởng trong thời bình, nhưng không phải không le lói hy vọng khi nền độc lập quốc gia đang bị đe doạ.

Dù bằng con đường nào, Việt Nam nhất thiết phải có sự thay đổi.

Thoát Khựa về mặt kinh tế:

Giảm dần, tiến tới chấm dứt hoạt động thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc trong bối cảnh Việt Nam nhập khẩu tuyệt đại bộ phận hàng hoá từ Tàu Khựa sẽ đem lại những hậu quả đớn đau và ngay lập tức. Nền kinh tế Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng nặng trong ít nhất 10 năm. Người Việt sẽ phải tìm kiếm những đối tác kinh tế khác với chi phí cao hơn và phải tự xây dựng những hệ thống mà mình chưa có. Nhưng cái giá phải trả chắc chắn sẽ nhỏ hơn thành quả lâu dài mà Việt Nam có thể đạt được.

Hiện nay Việt Nam nhập khẩu đại bộ phận các nguồn cung công nghệ thấp từ Trung Quốc, trình độ khoa học kỹ thuật của nền sản xuất Việt Nam do đó luôn đi sau Trung Quốc và thấp hơn rất nhiều mặt bằng chung của các nước khác. Đặc biệt, trong chuỗi thương mại xuất khẩu mà Việt Nam tham gia, chúng ta nhập khẩu hầu hết các sản phẩm bán thành phẩm của người Tàu, hoàn thiện một phần sau đó xuất ra thế giới. Nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam do đó đã bị bóp chết từ lâu, và Việt Nam hiện chỉ có thể coi là công cụ xuất khẩu của người Tàu trong một loạt lĩnh vực được cho là Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu. Minh chứng cay đắng cho thực tiễn này, là mặc dù hiện nay Trung Quốc đang xâm lăng công khai ở Biển Đông, nhưng cái đất nước khát máu ấy không hề nhắc đến một dòng về việc cấm vận kinh tế Việt Nam. Bởi đơn giản thực trạng quan hệ kinh tế hiện nay đang mang lại lợi ích tuyệt đối cho Trung Quốc. Không chỉ thu về thặng dư 17 tỷ usd hàng năm, Trung Quốc đang tiến hành chính sách phá hoại sâu rộng nền kinh tế Việt Nam bằng hoạt động của lực lượng thương nhân buôn bán phá hoại chắc chắn được tài trợ  từ chính ngân sách thặng dư của Trung Quốc trong buôn bán với Việt Nam. Hơn thế, dưới vỏ bọc của thương mại hoà bình, Trung Quốc đang tuồn hàng độc hại để tiến hành một cuộc chiến có tính thoái hoá giống nòi với người Việt. Tỷ lệ vô sinh, dị tật thai nhi của Việt Nam tăng với mức độ kinh khủng trong những năm qua. Thế hệ trẻ em đang lớn lên hiện nay, khi hàng ngày ăn vào những thực phẩm chứa đầy hoá chất độc, chắc chắn sẽ để lại hậu quả nặng nề trong một thập niên tới. Chúng ta sẽ không còn bất cứ tương lai nào, khi nòi giống đã bị thoái hoá.

Tựu trung lại, trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, thay vì tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu để thu về lợi ích, người Việt đang bị bóp chết mọi cơ hội vươn lên để thành một cường quốc:

- Việt Nam luôn nhập khẩu công nghệ kém phát triển từ Trung Quốc vì giá rẻ, nhưng do đó trình độ thấp. Vì thế, Việt Nam tự đánh mất cơ hội sở hữu công nghệ từ các nước phát triển và luôn đi sau Trung Quốc.

- Nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam bị bóp chết (không thành phần kinh tế nào đầu tư sản xuất khi nhập hàng được từ Tàu, trong bối cảnh không có hàng rào kỹ thuật để chặn hàng hoá Khựa). Hiện nay kinh tế Việt Nam lệ thuộc nặng vào Trung Quốc, chỉ xuất được một ít nguyên liệu thô và nhập khẩu đại bộ phận hàng hoá, trở thành công cụ xuất khẩu của Trung Quốc.

- Chính sách thương mại có định hướng và được tài trợ từ chính phủ của Trung Quốc đang tiếp tục gây những tổn hại về lâu dài đối với Việt Nam

Đây chính là những điều đang diễn ra. Đâu là giải pháp?

Như hai mặt của cùng một vấn đề, nguy cơ, đồng nghĩa với lời giải. Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần chấp nhận những khó khăn đau đớn, để thay đổi tiến tới chấm dứt hoạt động thương mại bất bình đẳng với người Tàu. Trước hết, Việt Nam cần dựng ra các hàng rào kỹ thuật để chặn hàng hoá Trung Quốc vào Việt Nam theo đúng luật chơi WTO. Việt Nam cần tìm những nguồn cung công nghệ và hàng hoá khác, với chi phí cao hơn nhưng chắc chắn tốt hơn để thay thế hàng Tàu. Cái giá phải trả rất nặng nề, chắc chắn khiến Việt Nam khủng hoảng từ 5 - 10 năm. Cũng trong thời gian ấy, chính phủ và các thành phần kinh tế bản địa cần bằng mọi giá xây dựng được nền công nghiệp phụ trợ. Chúng ta có cơ sở để thành công. Vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối chưa bao giờ ngừng rót vào Việt Nam. Chi phí lao động ở Việt Nam còn thấp và dân số đang ở thế hệ vàng với tỷ lệ lực lượng trong độ tuổi lao động rất cao trên tổng dân số. Hơn thế, chắc chắn có những quốc gia sẵn sàng cung cấp vốn và công nghệ cho Việt Nam, ví dụ Nhật bản. Việt Nam cũng là một quốc gia có hoạt động kinh tế mở rộng, với việc tham gia WTO và tới đây là TTP. Có thể nói, tiền tề cho sự chuyển hướng thoát Khựa là hoàn toàn hiện thực.

Đối ngoại và thoát Khựa:

Về chính sách đối ngoại, đường lối ngoại giao hiện nay của Việt Nam có thể ví như tính khôn lỏi của trẻ con khi hy vọng luôn đạt được kẹo từ lá bài hai mặt. Làm bạn với tất cả, cũng đồng nghĩa với chẳng có người bạn thật sự nào. Không có ai chơi thật lòng với anh khi người ta thấy anh đang bắt tay cả với kẻ thù của chính người ta. Do đó, đường lối ngoại giao hiện nay của Việt Nam trên thực tế chỉ là trò khôn vặt của một đứa trẻ con cứ tưởng rằng đánh đu được với những tay cáo già với cái đầu toàn sạn trong thế cuộc toàn cầu. Việt Nam hiện nay, nhất thiết phải có đồng minh. Và đồng minh ấy không phải chỉ là quan hệ làm ăn kinh tế bởi buôn bán thì ai cũng chơi được miễn là có lợi, mà quan hệ đồng minh đó phải xây dựng trên nền tảng của các liên minh chính trị và quân sự. Chọn đúng đối tác, sẽ có yếu tố quyết định đến tính thành bại của cuộc chơi chiến lược này.

Trong các thế lực lớn trên thế giới hiện nay, phải kể đến phương Tây do Mỹ cầm đầu, kế đó là thế lực của người Nga, Trung Quốc và những quyền lực khác mới nổi như Ấn Độ... Việt Nam cần chọn thế lực nào để thiết lập quan hệ đồng minh? Đồng minh theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng. Một quan hệ đồng minh đúng nghĩa, chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của sự tương đồng lợi ích, giao thoa văn hoá và cả sự chia sẻ về các nguy cơ an ninh chung. Trên cơ sở đó có thể xếp hạng tính tương đồng về lợi ích của Việt Nam với hầu hết các thế lực này như sau:

Trung Quốc, không nghi ngờ gì là mối nguy cơ sinh tồn số một đối với Việt Nam. Chúng ta thu được rất ít nếu không muốn nói là luôn bị thiệt hại trong quan hệ kinh tế với người Tàu. Bên cạnh đó, rõ ràng Trung Quốc đang tiến hành cả một cuộc xâm lược cứng (lãnh thổ) và xâm lược mềm (lệ thuộc kinh tế) với Việt Nam. Nguy hại hơn, Trung Quốc chắc chắn đứng sau và tài trợ cho chiến lược làm thoái hoá giống nòi của người Việt. Đây là thế lực đe doạ trực tiếp và sống còn đối với Việt Nam.

Mỹ - Chia sẻ với Việt Nam một số lợi ích về thương mại và phần nào về chính trị vì nước Mỹ có tham vọng chặn đà đi lên của người Tàu. Tuy nhiên, sự khác biệt về chính trị giữa Việt Nam và Mỹ quá rõ ràng, chưa nói đến Việc Mỹ có một loạt quân bài khác trong khu vực để chơi như Philipin, Nhật bản, Hàn Quốc mà Việt Nam không thể có vai trò so sánh. Do đó không hy vọng gì vào một quan hệ tương trợ đồng minh với Mỹ trong tương lai gần trừ khi Việt Nam thay đổi triệt để về chính trị.

Nga - Nước Nga mới của Putin đang nổi lên như một thế lực do tính khan hiếm theo thời gian của dầu lửa và khí đốt. Mặt khác quốc gia này đang chứng tỏ tính hung hăng một cách có kiểm soát bằng cuộc xâm lược vào Ucraina hiện đang diễn ra. Nước Nga chia sẻ với Việt Nam một số lợi ích về kinh tế và một số giá trị về tình đồng minh xuất phát từ lịch sử. Nhưng giá trị của Việt Nam với Nga không đủ lớn để chia sẻ bất cứ một nguy cơ an ninh có ý nghĩa nào. Nước Nga hiện nay, chỉ có thể coi là một đối tác buôn bán có cảm thông chứ không thể là một đồng minh thực sự.

Ấn Độ - Trong các thế lực lớn, Ấn Độ chia sẻ nhiều giá trị với Việt Nam về tình hình an ninh. Nhưng nguồn lực của quốc gia này rất hạn chế do đây vẫn chỉ là một nước thuộc thế giới thứ ba. Đông dân, có tiềm lực, có vũ khí hạt nhân nhưng vẫn đang vật lộn với các bài toán riêng của nó. Quan hệ thương mại song phương Việt Ấn hiện cũng rất hạn chế. Hai nước có duy nhất một điểm chung là đều đang cùng chia sẻ cái nhìn nghi kỵ với người Tàu. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ chỉ có thể phát triển thành đồng minh trong tương lai, nếu song song với việc chấm dứt và đoạn tuyệt quan hệ thương mại với Khựa, Việt Nam tăng cường giao thương với Ấn. Mặt khác, Việt Nam có thể tìm kiếm một số nguồn cung vũ khí từ các nguồn cung cấp của Ấn Độ, vốn luôn sẵn lòng đáp trả những gì Trung Quốc làm với Ấn Độ khi trang bị vũ khí cho Pakistan.

Asean - Một liên minh lỏng lẻo, nặng tính hình thức và quá nhiều khác biệt về lợi ích. Thực tế Asean đã bị Trung Quốc xé nát bởi quân bài Campuchia. Dù rằng gần như Trung Quốc đã đánh mất lá bài Mianma cùng với cuộc cách mạng lịch sử của ThanSwe (lịch sử Mianma sẽ ghi nhớ cái tên này), nhưng Trung Quốc vẫn còn nhiều thứ để chơi, ví dụ như Thái Lan và thậm chí là Lào. Tóm lại, Việt Nam không thể hy vọng gì nhiều vào Asean ngoài sự cảm thông từ Philipin, Malaysia và phần nào đó là từ những nguyên thủ quốc gia có tầm nhìn xa như Lý Hiển Long của Singapore. Không thể trông chờ vào một liên minh có ý nghĩa với Asean, ít nhất trong 10 năm trước mắt.

Thứ duy nhất người Việt hiện có thể trông đợi vào, duy nhất có Nhật Bản. Hãy nhìn vào những sự kiện đang diễn ra, khi Trung Quốc xua tàu chiến và giàn khoan xâm lược Việt Nam, nguyên thủ quốc gia duy nhất lên tiếng phản đối mạnh mẽ và công khai, không phải là tổng thống Mỹ, không phải là Putin, cũng không phải Ấn Độ hay Asean, mà chỉ có thủ tướng Nhật Bản. Cả người phát ngôn chính phủ Nhật, cả bộ ngoại giao và cả thủ tướng Nhật, đều lên tiếng lên án Trung Quốc gần như trong cùng một ngày và gần như ngay lập tức sau cuộc họp báo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam.

Sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản là sâu sắc về mọi phương diện. Về kinh tế, Nhật có quan hệ sâu rộng với Trung Quốc và đầu tư nhiều nhà máy lớn ở quốc gia này. Nhưng mẫu thuẫn Trung Nhật hiện đã đủ lớn khiến Nhật Bản buộc phải tháo lui dần các nhà máy sản xuất khỏi Trung Hoa để đảm bảo an ninh chiến lược của mình. Cuộc chiến đất hiếm năm 2011 cũng khiến Nhật Bản nhận thức rõ họ không thể có bất cứ lệ thuộc nào về nguồn cung các nguyên liệu chủ yếu với Trung Hoa. Cùng với việc di dời các nhà máy khỏi Trung Quốc, làn sóng đầu tư và quan hệ kinh tế của Nhật ở Viinh Nam ngày một tăng lên theo thời gian. Đó là lợi ích chiến lược khiến quan hệ Việt Nhật ngày càng sâu sắc về mọi phương diện. Nhật Bản luôn dẫn đầu về số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam trong 20 năm qua, và số vốn tiếp tục tăng đều theo thời gian. Sự mâu thuẫn Trung Nhật sẽ tiếp tục tác động tích cực đến quan hệ Kinh tế Việt Nhật trong một thập kỷ tới.

Về mặt văn hoá, hiện nay có thể nói Nhật Bản là dân tộc được người Việt tôn trọng nhất so với mọi dân tộc khác trên thế giới. Hầu hết các thành tựu của Nhật Bản đều được người Việt khâm phục và tìm cách học hỏi (dù không mấy thành công). Về phía người Nhật, do các chia sẻ về lợi ích và an ninh, cộng với tình cảm dễ chịu từ phía người Việt Nam (nhấn mạnh là từ người dân Việt Nam), cũng khiến người Nhật cảm giác có thể chia sẻ nhiều sự đồng cảm với người Việt. Chưa có một đợt quyên góp quốc tế nào được người Việt Nam chủ động khởi xướng và sẵn sàng đóng góp như khi người Việt góp tiền gửi tới người Nhật sau thảm hoạ sóng thần năm 2012. Cũng chính Nhật Bản, tính đến hiện nay, luôn là quốc gia viện trợ lớn nhất cho Việt Nam về nguồn ODA tài trợ.

Điều đặc biệt đang gắn kết Việt Nhật, đó chính là sự chia sẻ về an ninh. Nhật có nền kinh tế rất phát triển nhưng trì trệ trong nhiều thập niên, nguyên nhân chính vì Nhật tự trói buộc tiềm năng của mình trong đó có nền công nghiệp quốc phòng, khi không thể bán hàng ra thế giới. Cùng với hiểm hoạ xâm lăng ngày một tăng lên từ Trung Quốc, Nhật Bản có nhu cầu được thừa nhận như một cường quốc đầy đủ cả về kinh tế, quân sự và vai trò chính trị trong phân bố quyền lực toàn cầu. Nhật Bản có thể tự vệ trong liên minh phòng thủ với Mỹ, nhưng với tư cách là một dân tộc có tầm nhìn xa, Nhật Bản chắc chắn không giao vận mệnh vào tay Mỹ. Nước Nhật do đó chắc chắn sẽ tái vũ trang, để giúp Nhật có thể đảm bảo an ninh cho nó một cách độc lập. Bên cạnh đó, việc hồi sinh ngành công nghiệp quốc phòng, cũng sẽ giúp Nhật có thêm một lực đẩy quan trọng vào nền kinh tế khổng lồ vẫn đang ì ạch. Trong bối cảnh đó, Nhật Bản có nhu cầu và mong muốn thúc đẩy quan hệ bền chặt về mọi mặt với Việt Nam, để giúp Việt Nam mạnh lên trong ván bài mặt trận liên minh trước mối nguy xâm lăng đến từ Trung Quốc. Nhật Bản, theo văn hoá á Đông truyền thống, cũng không quá dị ứng với nền chính trị độc tài của Việt Nam, dù nạn tham nhũng ở Việt Nam đôi lúc khiến quan hệ song phương gợn lên những trục trặc nhỏ.

Có thể nói, tất cả mọi giá trị tương hợp, khiến Nhật bản nổi lên là một lựa chọn duy nhất đối với Việt Nam để xây dựng một quan hệ đồng minh toàn diện và đầy đủ, cả về kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hoá và an ninh. Mục tiêu của Việt Nam, do đó phải tìm cách thúc đẩy để xây dựng ngày một mạnh mẽ quan hệ với Nhật Bản, tiến tới thiết lập một hiệp ước an ninh và phòng thủ, điều chắc chắn không thể có ngay, nhưng có cơ sở để thành hiện thực về dài hạn.

Chính trị và thể chế, gốc rễ của mọi vấn đề:

Về tiền đề thứ hai, cuộc cách mạng về thể chế chính trị trong luận thuyết Thoát Khựa Luận, đến giờ anh Lãng vẫn lờ đi không nhắc đến. Anh để tiền đề này cho chính các bạn phân tích để tránh rủi ro cho anh. Về mặt cá nhân, anh vẫn mong muốn một cuộc cách mạng đẹp trong hoà bình như Mianma. Tại sao cái chế độ độc tài quân sự thân Khựa ấy lại có thể sản sinh ra Than swe, trong khi một đất nước đã đổi mới 20 năm như Việt Nam thì giờ gần như đốt đuốc không ra lãnh tụ trong hệ thống chính trị. Đây là một nỗi đau và bi kịch lịch sử mà người Việt sẽ phải giải quyết để đấu tranh cho quyền sinh tồn đang bị đe doạ trực tiếp của mình.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Di sản nào của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp?

Sự kiện quan trọng nhất đối với người Việt Nam trong những ngày qua chính là tang lễ của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Vừa qua lần sinh nhật thứ 103, ông là người sống vắt ngang hai thế kỷ, một tuổi thọ hiếm thấy với danh tiếng lan rộng trên khắp thế giới. Tên tuổi của ông được báo chí quốc tế đặt ở vị trí trang trọng không kém những sự kiện nổi bật đang diễn ra. Điều đó khẳng định vị thế của ông với tư cách một vĩ nhân, không phải chỉ của người Việt Nam, mà là còn của lịch sử nhân loại.

Trong những ngày này nhiều tranh luận dấy lên về công nghiệp của ông. Nhiều lời ca ngợi ông như một vị tướng kiệt suất. Một sự thật lịch sử. Nhiều ý kiến khác muốn làm lu mờ ông khi nhắc đến cái chết của hàng triệu người lính trong suốt 30 năm chiến tranh. Nhưng dù muốn dù không, không ai có thể phủ nhận thực tiễn ông đã chỉ huy một đội quân trang bị thiếu thốn hàng nghìn lần so với những quân trộng hùng mạnh mà ông và những người lính của mình đã đánh bại. Một so sánh nực cười khi nói đến tổn thất nhân mạng mà không nhìn vào thực tế chênh lệch về trang bị và khí tài của hai bên tham chiến. Anh Lãng sẽ không tốn thời gian để bàn luận nhiều về một sự thật có tính hiển nhiên này.
Hãy nhìn ảnh hưởng của Tướng Giáp, từ những góc nhìn không có gì liên quan đến ông, những số phận tưởng chừng ông chẳng bao giờ có ảnh hưởng. Chiều ngày 9/10 khi ngồi tại nhà hàng gần Vivo city, Singapore, ang Lãng nghe bàn bên có một thằng Mã lai, một thằng Angiery và hai thằng gốc Hoa tán phét với nhau, rất ngạc nhiên là câu chuyện cũng bàn về tướng Giáp. Và theo một thằng Hoa thì ông Giáp chọn đặt mộ tại vùng biển miền Trung là có thâm ý sâu xa về phong thuỷ, thậm chí có liên quan đến vấn đề chủ quyền trong vùng biển Đông. Nghe loáng thoáng vì bọn này nói tiếng Anh khó nghe, hơn nữa kỹ năng ngoại ngữ của anh cũng tồi nốt, nhưng rõ ràng, cụ Giáp có một ảnh hưởng lớn không phải chỉ riêng đối với người Việt.
Nhân nhắc đến câu chuyện về nơi an táng cụ Giáp, anh lại nhớ đến di chúc của ông Hồ, theo đó ông mong ước tro cốt mình được chia làm ba phần, chọn an táng ở ba ngọn đồi đẹp ba miền Bắc, Trung, Nam. Một di chúc đầy ẩn ý về tâm linh và đoàn kết dân tộc. Di chúc ấy chưa bao giờ được thực hiện và phần thân xác của ông, một vĩ nhân kiệt xuất, vẫn ngày ngày được tẩm ướp hoá chất để nằm lặng lẽ với thời gian trên quảng trường Ba Đình. Nếu chúng ta hiểu cái chết là sự khởi đầu cho sự tái sinh, thì đây là một cực hình đày đoạ khiến ông không siêu thoát, cũng đồng nghĩa với việc người dân Việt Nam mất đi cơ hội tái sinh cho một vĩ nhân kiệt suất. Dù sao đây là một vấn đề thuộc phạm trù tâm linh. Cá nhân anh Lãng luôn mong muốn, một ngày nào đó di chúc của ông Hồ sẽ được thực thi, và Lăng Hồ Chí Minh thay vì bảo quản một thi hài bị rút nội tạng được tẩm hoá chất nằm đày đoạ với thời gian, sẽ là một tượng vàng thật lớn để bày tỏ lòng trân trọng của hậu thế, nhưng để ông Hồ có cơ hội tái sinh. Biết đâu, lịch sử nhờ đó sẽ khác?
Một may mắn lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, di chúc của ông được tôn trọng, và chính quyền hiện nay chấp thuận theo mong muốn của ông, đưa di hài của Đại tướng về an táng tại Quảng Bình, thay vì việc nhét ông vào Mai Dịch, nơi an táng dành riêng cho những viên chức cấp cao. Một nơi vốn từ lâu người Việt chẳng mấy đoái hoài và đi qua cũng chẳng bao giờ thèm liếc mắt. Chắc chắn Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ chẳng thể vui nếu ông nằm cạnh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đoàn Khuê ... Và cũng chẳng người Việt Nam yêu mến Đại tướng muốn vị anh hùng dân tộc cuối cùng trong thời đại của ông phải nằm cạnh những người họ chẳng hề kính trọng. Từ những thông tin trên mạng, một vùng núi giáp biển tuyệt đẹp, nhìn ra biển Đông, được gọi là Vũng Chùa sẽ là nơi an giấc ngàn thu của Đại tướng. Chắc chắn rằng Võ Đại tướng, một người có hiểu biết uyên thâm, sống lặng lẽ suốt 30 năm sau hào quang chiến thắng, mọi quyền bính bị tước bỏ nhưng vẫn giữ cái đạo làm người của người quân tử, có thâm ý riêng của mình khi chọn mảnh đất này. Ông sống lặng lẽ nhưng chưa bao giờ thôi quan tâm đến tình hình đất nước. Những năm cuối đời, ông gửi nhiều bức thư góp ý về nhiều chính sách lớn cho quốc gia. Chính phủ chưa bao giờ nghe ông, nhưng nhân dân và lịch sử ghi nhận tất cả. Cuộc đời của đại tướng Võ Nguyên Giáp là một minh chứng sống cho luật nhân quả. Đám tang của ông trở thành một sự kiện tầm vóc quốc tế với sự kính trọng của hàng triệu người Việt. Chắc chắn là hầu hết quan chức Việt Nam hiện nay, cũng như mọi đối thủ chính trị từng cố muốn xoá tên ông, không thể ngờ được rằng ảnh hưởng của ông đối với lịch sử và người dân lớn đến mức ấy. Trong hàng triệu người tiễn đưa Võ Đại tướng, có những người lính già vẫn sống trong ký ức và cái bóng của thời gian, nhưng cũng có vô số những người trẻ tuổi sinh ra sau chiến tranh, lớn lên trong bối cảnh tên Đại tướng bị cố ý xoá mờ trong rất nhiều sự kiện, và gồm cả những kẻ thủ đoạn, lạnh lùng như anh Lãng. Đây chính là một phần di sản của Đại tướng Võ nguyên Giáp đối với lịch sử và hậu thế. Một di sản sâu sắc về quy luật nhân quả đối với những nhân vật đi qua thời gian và ghi dấu ấn của mình vào lịch sử.
Muốn đánh giá về di sản của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, cần cắt nghĩa tại sao hàng triệu người Việt Nam lại tự nguyện tiễn đưa ông, điều chắc chắn họ đã và sẽ không làm trong đám tang nhiều ông tai to khác chết trước và sau ông về sau này. Theo anh, Có hai di sản chính mà Đại tướng để lại cho hậu thế. Thế giới biết đến ông với vai trò của một danh tướng. Qua những thông tin lan rộng trên báo chí quốc tế, có thể thấy rằng ông là một danh tướng kiệt suất trong lịch sử. Võ công của ông không chỉ đem lại độc lập cho dân tộc Việt Nam, mà còn cho nhiều dân tộc khác nữa từ Á sang Phi và Mỹ Latinh. Người Việt khóc thương ông trong niềm kính trọng, cũng giống như họ đã kính trọng, biết ơn và sau đó là thần thánh hoá các danh tướng trong lịch sử vệ quốc, giống như danh tướng Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt và nhiều vị tiền nhân dựng nước khác. Nhưng còn có một lý do khác, người Việt khóc tiễn đưa ông, vì với họ, ông là phần lương tri cuối cùng còn sót lại trong thế hệ của mình. Sự ra đi của ông, đối lập với sự tồn tại và vinh thân phì gia của một hệ thống toàn trị vô đạo đức đang bóp cổ dân đen, càng khiến người Việt thấy nuối tiếc. Khóc cho ông, cũng đồng thời khóc cho sự cơ cực của người Việt trong bối cảnh đạo đức ngả nghiêng trong xã hội hiện nay. Cái chết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sẽ khiến hầu hết người Việt có tri thức và hiểu biết phải bật ra câu hỏi: Họ và con cháu họ sẽ phải tiếp tục sống trong một xã hội mà sự thối nát và bất công lan rộng này đến bao giờ. Theo anh Lãng, đây là một di sản lớn mà sự ra đi của Đại tướng để lại cho tương lai của dân tộc Việt Nam, dù ảnh hưởng của nó đến mức nào sẽ vẫn là một câu hỏi ngỏ.
Trong đám quan chức đông nghẹt đứng trong tang lễ của ông, chắc chắn không ít sẽ phải giật mình khi nghiệm chứng về luật nhân quả. Có bao nhiêu trong số họ sẽ được dù chỉ một phần triệu số người thương tiếc Đại Tướng Võ Nguyên Giáp tiễn đưa, hay sẽ có vô số người muốn đái lên mồ họ? Sự thức tỉnh về lương tri và sự lo sợ cho cái giá phải trả theo luật nhân quả chắc chắn sẽ là một ám ảnh với không ít trong đám người này.
Một nhân vật lịch sử lớn ra đi bao giờ cũng để lại sau lưng mình nhiều di sản. Một số do họ tự tay tạo nên khi còn sống, nhưng riêng với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, di sản của ông chắc chắn sẽ còn là cả ảnh hưởng xã hội mà sự ra đi của ông đã xới lên mà rồi đây sẽ phản ánh vào những biến thiên của lịch sử. Đối với người Việt Nam, ông không chỉ để lại nỗi tiếc thương, mà còn cả những câu hỏi về đạo đức và lương tri, về một cuộc sống tốt đẹp đáng ra người Việt Nam cần phải có. Đây có lẽ mới là phần chính trong di sản của Đại Tướng mà hiện tại vẫn chưa thể định lượng bằng các thang đo.
Anh Lãng về kịp viếng tang cụ Giáp trong ngày 10 tại nhà riêng 30 Hoàng Diệu. Anh không xếp hàng mà vào bằng thủ đoạn sau khi đi thẳng từ sân bay (anh xin lỗi hàng vạn đồng bào đứng xếp hàng mà nhiều trong số họ rồi sẽ không được vào vì hết giờ và xin nhận lỗi vì sự thủ đoạn không bao giờ cai được của anh). Trong dòng người đứng lặng lẽ hai bên đường sáng nay cũng có anh, đây là lần duy nhất trong nhiều năm, anh sống với tình cảm thật lòng vì một người không cùng huyết thống.

Những thời đại suy tàn

Lời anh Lãng: Thiên Lãng luận này anh viết đâu đó khoảng năm 2006, cách đây khoảng 6, 7 năm. Cũng vì nó mà anh phải lặn mất tăm khỏi net trong khoảng 1 năm để tránh những phiền toái không đáng có. Nhân ngày mất của cụ Giáp, anh search trên mạng và đăng lại về đây. Cho một khoảnh lặng rõ hơn về một thời đại suy tàn.
Bữa nay anh Lãng rảnh, vào ngồi bàn láo với các bạn về một thời đại suy tàn. Nhưng để khách quan, anh dùng từ "những" cho nó có vẻ phổ cập.
Hôm 07/05 vừa rồi, ngồi nhậu cùng một đám tai to, các bạn rủ anh, lúc nào đến vấn an cụ Giáp.
Giáp là một huyền thoại, trong lịch sử của một đất nước mà anh hùng thường là những người giỏi đánh nhau, đương nhiên với vai trò của một vị tướng với chiến thắng vĩ đại trước một cường quốc, ông nghiễm nhiên thành một huyền thoại nổi bật. Huyền thoại ấy càng trở lên lung linh hơn, khi Giáp với lối sống khiêm nhường, khinh thường mọi sự cạnh tranh và có vẻ coi trọng cái đạo làm người của người quân tử. Đặc biệt, khi một đất nước thấp cổ bé họng vì đói nghèo, thành tích để sánh cùng bạn bè năm châu hầu như chẳng có gì. Khi không thể khoe nhà tao giàu, biệt thự tao to, vợ tao ngon, con tao khỏe ... với các bạn nhà hàng xóm, thì một huyền thoại có tính nổi bật như cụ Giáp vốn được quốc tế nể trọng lại càng trở lên đắt giá. Vì ngần ấy lí do, trong số các nhân vật lịch sử đương đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong hầu hết đánh giá, gồm cả trong quan niệm của anh Lãng, là một người hùng thực sự, cả vì sự nghiệp của ông và cả về nhân cách con người mà ông thể hiện.
Riêng có Việt Nam, đói ăn lâu dài cho đến khi đất nước đứng trước bờ vực sụp đổ, 11 năm sau chiến tranh, gạo mới được trồng đủ cho người dân ăn. Đó là một kết quả tất yếu của việc một thời gian dài đất nước được lãnh đạo bởi những cái đầu ghi vinh quang bằng thời gian ngồi tù hoặc đấu đá chém giết, chứ không phải bằng tư duy chiến lược và tài năng quản lý.

Nhưng dẫu sao, ánh hào quang le lói của ông cụ, cũng chỉ đại diện cho vinh quang lụi tàn của thời đại mà ông cụ được vinh danh, cái thời mà thương hiệu Việt Nam đại diện cho công lý và chiến thắng. Một thời đại đã suy tàn.
Từ nhiều năm qua, những câu chuyện luẩn quẩn của Việt Nam trong bài toán phát triển kinh tế, trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích dân tộc đã khiến đại bộ phận tinh hoa tri thức quốc gia tốn nhiều tâm sức. Cố nhiên với loại người gian tham, đểu giả tư lợi cá nhân như anh Lãng của các bạn, thì chuyện đó chẳng có ý nghĩa kặk gì cả, có chăng chỉ là lúc hứng thì bốc phét cho vui. Nhưng dù thế, sự băn khoăn về nó vẫn luôn hiện diện.
Đói, nghèo, sức mạnh yếu cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Đại bộ phận người Việt Nam mang nặng tâm lý tự ti của một nước nhược tiểu khi nhìn ra thế giới, pha lẫn trong đó là niềm mặc cảm tự hào vì vinh quang chiến tranh dân tộc, điều đó khiến tâm trạng của người Việt lâm vào một tình trạng rất khó lí giải: luẩn quẩn trong nỗi tự ti yếu hèn và đan xen trong đó sự quật cường được kế thừa có tính di truyền. Dấu ấn tâm lý ấy, thể hiện khá rõ trong đại bộ phận các phản ứng của đám dân đen đối với các sự kiện lớn của đất nước.
Khi nói về sự yếu kém trong phát triển kinh tế đất nước, ai cũng có thể nhìn ra, chúng ta nghèo, vì Ngu. Nhưng nói thế không có nghĩa là cả nước ngu, mà đúng hơn, là đường lối phát triển đất nước ngu. Một thời gian dài đất nước sau thống nhất, có đủ điều kiện thuận lợi về tự nhiên, một quốc gia có nền nông nghiệp hàng nghìn năm lịch sử mà cả nước đói ăn, câu cửa miệng từ quan được tuyên truyền đến dân: Hậu quả chiến tranh nên mới đói. Châu Âu sau thế chiến thứ hai là một đống gạch vụn, họ không những hết đói, mà vươn lên trở lại thành trung tâm ánh sáng của thời đại trong thời gian rất nhanh. Nhật Bản cũng chẳng khác gì một đống tro tàn, vùng dậy từ đống đổ nát chiến tranh và thành một cường quốc phát triển trong thời gian kỷ lục. Hàn Quốc cũng chẳng khác gì khi chỉ còn là một đám đất hoang, nhưng từ đó đã phát sinh một kỳ tích được lịch sử ghi nhận là con rồng Đông Á. Riêng có Việt Nam, đói ăn lâu dài cho đến khi đất nước đứng trước bờ vực sụp đổ, 11 năm sau chiến tranh, gạo mới được trồng đủ cho người dân ăn. Đó là một kết quả tất yếu của việc một thời gian dài đất nước được lãnh đạo bởi những cái đầu ghi vinh quang bằng thời gian ngồi tù hoặc đấu đá chém giết, chứ không phải bằng tư duy chiến lược và tài năng quản lý.
Bi kịch của sự nghèo đói vì Ngu ấy được làm trầm trọng thêm không phải chỉ bởi sự đói nghèo của dân chúng, mà còn bằng sự tổn hại về lợi ích quốc gia. Các sự kiện mất chủ quyền lãnh thổ năm 88 trên Biển Đông, rồi các sự kiện bi hài xung quanh quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 90, để lại một nỗi chua xót lớn lao đối với đại bộ phận những người trong cuộc.
Đứng trước sự tồn vong của chế độ, người Việt Nam có vẻ như bừng tỉnh. Các chính sách thay đổi kế tiếp nối nhau ra đời. Từ đó đến nay, VN được coi là có mức tăng trưởng khá tại Á Châu và cải thiện được phần nào vị thế quốc tế. Nhưng rất đáng tiếc, những cái nền tảng tăng trưởng ấy được xây dựng trên một cơ sở có quá nhiều thuận lợi: Nguồn tài nguyên quốc gia, nguồn nhân lực rẻ mạt, nguồn tiền kiều hối gửi về từ bên ngoài (10% GDP) ... và đổi lấy một mức tăng trưởng không bao giờ vượt quá con số 9%. Việt Nam từ một con sên, đi nhanh hơn so với chính mình, và chậm hơn so với phần còn lại. So với đối thủ truyền đời là Trung Quốc, Việt Nam tụt hậu nhanh chóng và quá xa. Và chúng ta lại càng không bao giờ đạt tới cái gọi là kỳ tích Á Châu mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông đã từng làm được. So với các quốc gia ở thứ hạng hai, cũng còn rất xa chúng ta mới theo kịp nổi Thái Lan, Malaysia hay Indonesia. Có quá nhiều nguyên nhân, từ cơ chế quản lý, chính sách yếu kém, nhân lực trình độ tồi ... nhưng tựu trung lại, là vì Ngu. Dân đen đương nhiên phải ngu, nhưng cũng đám dân đen đó ở các bọn theo đạo hồi mọi rợ như Malaysia, hoặc bọn Khơ me ngu dốt chậm tiến ở Đông Nam Á xa xưa như bọn mọi Thái Lan, giờ bọn đó đã giàu, chí ít cũng vượt trên VN 20 năm phát triển. Bọn dân đen đó, so với bọn dân đen của chúng ta Ngu hơn nhiều, năm 75 tính trung bình hầu như không hơn chúng ta. Nhưng lãnh đạo của chúng ta, thể chế của chúng ta, Ngu hơn nhiều so với lãnh đạo của chúng nó, thể chế của chúng nó.
Ngày nay Việt Nam đang vật lộn một cách đáng thương với vị thế của một tiểu quốc, quốc lực nghèo khó, đại bộ phận dân cư đói nghèo, bị o ép về chủ quyền và tước đoạt lợi ích quốc gia, lãnh đạo bởi một chính thể toàn trị tồn tại dựa vào lịch sử chứ không phải bầu cử và chẳng có đồng minh mẹ nào trên trường quốc tế. Hầu hết người Việt Nam có tâm đau xót nhìn thực trạng ấy, trong nỗi suy tư và phần nào có tính bất lực. Tâm lý chán nản ấy thậm chí ăn sâu ở nhiều suy nghĩ có tính buông xuôi: Đấu thế đéo nào lại bọn Tàu, lựa nó mà sống cho lành. Và từ đó, những vết nhơ quốc thể trước sự luồn cúi của các bạn tai to trước các bạn Tàu, hoặc những nỗi đau về lợi ích quốc gia bị xâm hại trên Biển Đông, hoặc chính tại lãnh thổ quốc gia như Bô sit Tây Nguyên chợt trở thành điều gì đó có tính tồn tại hiển nhiên.
Cụ Giáp, gương mặt sót lại cuối cùng của thời đại được dựng lên bởi ông Hồ, đang ở tuổi gần đất xa trời. Cụ đại diện cho một thời đại mà niềm tự hào và vinh quang dân tộc được kéo dài thêm bởi những chiến công, một thời đại đang suy tàn và đáng ra đã nên kết thúc.

Trò luồn cúi được coi là trò đu dây, một sự khép mình được xem là thành công khéo léo. Tất cả đại diện cho một thế cục có tính khôi hài: Một thời đại được dựng lên từ lịch sử chống ngoại xâm, nó thống nhất được đất nước, nhưng đang vật lộn để kéo dài lấy sự vinh quang, hay nói đúng hơn là kéo dài sự cai trị. Một thời đại suy tàn.
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp là những anh hùng dân tộc. Vinh quang ông Hồ làm được năm 45, được cụ Giáp tô đậm thêm với chiến tích Điện Biên Phủ năm 54, trên thực tế, thời đại mà ông Hồ dựng ra đã lên đến đỉnh vinh quang từ lúc đó. Sứ mệnh lịch sử của ông Hồ, cùng với những người thuộc thời đại của ông, là tìm lại quyền phát ngôn cho người Việt Nam với tư cách là một dân tộc độc lập, lúc đó đã xong. Nếu thời đại ấy kết thúc năm 1954, và thay vì năm 1975 miền Bắc thống nhất miền Nam mà ngược lại, thì có lẽ bây giờ Việt Nam đã không quá khốn đốn trước các câu chuyện vật lộn về chủ quyền với Trung Quốc, không quá khốn đốn để trải nghiệm một thời gian đói nghèo lâu dài mới định hướng đất nước theo hướng thị trường và văn minh phương tây. Cũng không phải ở tình trạng một nước nhược tiểu, không có một đồng minh đúng nghĩa và bơ vơ như hiện nay. Năm 1954, nếu giả dụ cụ Giáp và những đồng chí của mình chạy mẹ nó sang miền Nam khiến cục thế đảo chiều, có khi lại là một cơ may lớn của dân tộc.
Chính thể miền Nam cũ được lịch sử chính thống tô vẽ là những kẻ bất tài, tham nhũng, tay sai và thối nát. Điều đó chẳng nói lên điều gì, khi thực tế Việt Nam hiện nay cũng gần đội sổ từ dưới lên trên bảng xếp hạng tham nhũng và minh bạch tại Á Châu. Chỉ có thể khẳng định chắc chắn rằng, nếu lịch sử 1975 đảo chiều cho phe chiến thắng và chiến bại, Việt Nam sẽ có một nền kinh tế thị trường sớm hơn, tiếp cận với thế giới phương Tây và hòa nhập với phần còn lại của thế giới nhanh hơn vài chục năm, dân Việt Nam sẽ đi du học sớm hơn, tiếp tu được lối sống ăn hút trụy lạc của bọn phương Tây cũng sớm hơn, và chắc chắn có bên cạnh một đồng minh hùng mạnh cũng giống như Nhật Bản, Nam Hàn đang có hiện giờ để đảm bảo rằng có thể mạnh miệng hơn trong bảo vệ lợi ích quốc gia và không có những câu chuyện đau lòng trên Biển Đông hay câu chuyện làm trăn trở thời cuộc như Bô xít Tây Nguyên.
Cụ Giáp, gương mặt sót lại cuối cùng của thời đại được dựng lên bởi ông Hồ, đang ở tuổi gần đất xa trời. Cụ đại diện cho một thời đại mà niềm tự hào và vinh quang dân tộc được kéo dài thêm bởi những chiến công, một thời đại đang suy tàn và đáng ra đã nên kết thúc.
Tất nhiên là nhắc đến câu chuyện thế này chỉ để nói láo cho nó vui, chứ thực ra có ý nghĩa kặk gì đâu. Các bạn, gồm cả bọn con bò vẫn thường vào đây hóng hớt, cứ xem như câu chuyện bốc phét mà anh của các bạn vẫn tùy hứng viết ra mà thôi.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Chiến lược nào cho Việt Nam? Chúng ta không còn thời gian nữa.

Đến thời điểm này, nhận định của anh Lãng có vẻ đã xác đúng tới 99%. Sự hung hăng gần đây của Trung Quốc ở các vùng biển thuộc phạm vi lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam và Phillipin chỉ là một màn hỏa mù che dấu cho ý đồ thực sự: Đưa giàn khoan khổng lồ vào khai thác tại vùng nước tranh chấp ở vùng biển Trường Sa. Vấn đề với các nước có liên quan: Họ sẽ phải cản bước Trung Quốc lại bằng cách nào?

Thực tế cho thấy, với bản chất lật lọng và tráo trở, người Trung Quốc coi mọi thỏa thuận mà họ từng ký chỉ là nắm rác. Trung Quốc chỉ tôn trọng đối phương, khi đối phương đủ mạnh, đủ quan hệ đồng minh để đối chọi lại sức mạnh đang không ngừng gia tăng của cái đất nước hiếu chiến ấy. Quá ngây thơ cho bất cứ ai, tin vào chữ tín hay sự thật lòng của Trung Quốc.

Điều đáng buồn là trong nhiều thập niên, đã từng có không ít thằng ngu đang nắm quyền cai trị ở Việt Nam thực sự đã từng tin vào sự thật lòng của Trung Quốc. Mới chỉ cách đây ít năm thôi, khi một loạt chuyên gia kinh tế và những người Việt Nam có tầm nhìn xa, đưa ra hàng loạt cảnh báo về các chính sách của Việt Nam đang tạo sự nguy hiểm khi để các công ty Trung Quốc có điều kiện thắng thầu và thâm nhập quá sâu vào nền kinh tế Việt Nam. Bất chấp mọi lời cảnh báo, sự thiếu thận trọng của bộ phận chóp bu cầm quyền, trông đợi vào chữ tín và sự hòa hiếu của Trung Quốc với những con mẹ gì mười sáu chữ vàng và bốn tốt, được làm trầm trọng thêm bởi đội ngũ lãnh đạo tha hóa tham nhũng (Trung Quốc rất sẵn lòng lợi dụng điều này), để đến ngày nay, nền kinh tế Việt Nam lâm vào những khó khăn nặng nề. Cùng lúc đó, trên biển, Trung Quốc không ngừng lấn tới.

Tuy nhiên mọi sai lầm cũng là quá khứ. Đất nước nguy nan, đây không  phải là lúc chúng ta đem vấn đề ra mổ xẻ rằn vặt lẫn nhau. Phải chấp nhận thực trạng đau xót hiện tại, nhìn thẳng vào nó, cùng xiết chặt tay nhau tìm lối ra trong màn đêm đen tối. Phẩm chất ưu tú này của người Việt, chính là thứ để thế giới phải kính chào, và cũng chính là chất keo gắn kết giúp cha ông chúng ta gìn giữ được bờ cõi trước hàng trăm cuộc xâm lược đến từ Trung Quốc trong quá khứ.

Trung Quốc vốn là một dân tộc hèn nhát và ti tiện. So với các dân tộc kiêu hùng trong khu vực, ví dụ Nhật Bản, thì người Trung Quốc chỉ là một đám dân ti tiện và hèn mạt không hơn. Dẫu rằng Khổng Tử sinh ra ở Trung Quốc, nhưng dân tộc bội tín, hèn nhát, tráo trở và lừa lọc nhất lại chính là người Trung Quốc. Họ chưa từng dám đánh nhau với bất cứ một cường quốc nào, khi bị xâm lăng, Trung Quốc luôn đầu hàng và bại trận. Một Nhật Bản bé nhỏ bằng 1/20 Trung Quốc với dân số ít hơn vài chục lần, nhưng cũng đủ sức đè đầu cưỡi cổ cả nước Trung Hoa rộng lớn trong ngót 10 năm, mà bản thân người Trung Quốc không có khả năng tự giải phóng lấy mình. Nếu thế chiến thứ hai, Mỹ và Liên Xô không hợp lực đánh bại Nhật Bản, thì giờ cả đất nước Trung Hoa hẳn đã là một lãnh thổ trực thuộc phía Nam của nước Nhật. Tuy nhiên, Trung Quốc luôn sẵn sàng vênh vác, cậy đông cậy mạnh để o ép các dân tộc nhỏ yếu hơn. Đây là câu chuyện hiện đang diễn ra ở Biển Đông, giữa Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á nhỏ yếu khác.

Trung Quốc có thể là một nước lớn, nhưng nó không bao giờ có tư cách trở thành bá chủ như Liên Xô một thời hay như Mỹ hiện nay. Bởi đơn giản, nó không có tư cách đáng được tôn trọng.

Nhận xét thấu triệt về bản chất Trung Quốc, sẽ giúp chúng ta nhìn thấu chiến lược nhất quán của người Tàu, từ đó đề ra phương cách khoét sâu vào điểm yếu đối phương và tìm ra giải pháp.

Tham lam, đê tiện và hèn nhát, Trung Quốc sẵn sàng chà đạp bất cứ một đối thủ yếu ớt nào không một chút xót thương. Nhưng nó sẽ co vòi, nếu chạm với một đối thủ cứng đầu, dù yếu hơn nhưng có tinh thần bất khuất. Điều này chính là thứ đã diễn ra trong suốt lịch sử mấy chục thế kỷ sinh tồn của Việt Nam bên cạnh Trung Quốc. Quỵ lụy và hèn nhát trước Trung Quốc, chúng sẽ lấn tới và chà đạp chúng ta xuống tận bùn đen, không có một chút nhân từ hoặc nhân tính con người (Hãy xem cảnh lính Trung Quốc hăm hở xả trọng liên vào hàng lính nắm tay nhau trên bãi ngầm ngập nước của Việt Nam năm 88, và hãy nhớ lại sự nhục nhã hèn kém của Trung Quốc trước Nhật Bản thời thế chiến II, và đến giờ Nam Kinh vẫn là vết nhơ không cách gì xóa nổi của một đất nước to lớn, tàn bạo, nhưng hèn kém). Đừng bao giờ trông chờ vào sự nhân từ của Trung Quốc, và càng đừng bao giờ trông đợi vào những thứ con mẹ gì tình đồng chí, đồng ý thức hệ, 16 chữ vàng hay 4 tốt. Một thế hệ những thằng ngu ở Việt Nam rồi sẽ phải chịu phán xét của lịch sử cho những sự ngu dốt của chúng.

Chiến lược duy nhất của Việt Nam, để tồn tại bên cạnh Trung Quốc, nhường nhịn đến hết mức có thể chấp nhân, nhưng phải luôn sẵn sàng tinh thần quyết chiến đến cùng với bất cứ giá nào khi chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia bị đe dọa. Chỉ có tinh thần sẵn sàng quyết chiến, một cách thật sự, bằng những hành động cụ thể, mới giúp chúng ta có cửa sinh tồn bên cạnh cái đất nước đê tiện ấy.

Mọi kế hoạch của người Việt, đều phải được xây dựng bám sát theo cái chiến lược cốt lõi ấy: Nhẫn nhịn, nhưng bất khuất và sẵn sàng chiến đấu tới cùng.

Những sự kiện gần đây, là các bước tiến có tính logic của Trung Quốc trong chiến lược thôn tính trọn vùng biển phía Nam. Trung Quốc đã tiến hành mục đích này một cách nhất quán, xuyên suốt từ thời Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân cho tới Hồ Cẩm Đào hiện nay. Bất kể kẻ nắm quyền ở Trung Quốc là ai, thì bản chất đất nước (chứ không phải chỉ là chính quyền) Trung Quốc đều không từ bỏ cái dã tâm xâm lấn này.

Với một đối thủ nham hiểm, luôn có dã tâm nhất quán, nhiều thế hệ cầm quyền ở Việt Nam đã phạm sai lầm. Điều đó khiến Trung Quốc thắng thế và từng bước nuốt dần lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Năm 1958 chúng chiếm đảo Phú Lâm, năm 1974 chúng nuốt trọn Hoàng Sa, năm 1988 chúng chiếm 9 đảo và đá ngầm của Việt Nam ở Trường Sa và hiện nay, năm 2011 chúng đang âm mưu đưa giàn khoan khổng lồ khoan sâu 3000 m nước vào cắm tại Trường Sa, trong một chiến lược nhằm hiện thực hóa quyền kiểm soát và khai thác của Trung Quốc ở vùng biển của Việt Nam

Chúng ta cần có một chiến lược nhất quán, nhằm chặn chiến lược của Trung Quốc lại, chứ không phải chỉ đối phó với những hành động gây hấn có tính chiến thuật của người Tàu. Không thể cư xử với người Tàu bằng các giải pháp cấp thời, có tính đối phó manh mún, mà phải có một chiến lược nhất quán.


Cách đây 4 năm, anh Lãng từng đưa ra cảnh báo, trước sau gì Trung Quốc cũng sẽ đơn phương thăm dò khai thác tại Biển Đông, đi kèm với các chiến thuật kiểm soát nguồn lợi hải sản và chế tài trên biển. Đến giờ, tất cả đều đã được chứng minh. Đối với cá nhân anh mà nói, hoàn toàn không có một chút tự hào gì khi tầm nhìn của anh biến thành sự thật. Thực sự, anh cảm thấy đau xót, và phẫn nộ. Người Việt Nam, không thiếu trí tuệ, không thiếu tài nguyên, không thiếu nguồn lực con người, nhưng chúng ta, gồm cả những người ưu tú nhất, đều chỉ có thể giương mắt nhìn thực tế Trung Quốc ngày một xâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam, ngày một tiến dài hơn xuống phía nam để chiếm đoạt và xâm lược lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam. Đây là một câu chuyện thuộc về lịch sử và nhiều kẻ rồi sẽ phải trả lời.

Nhưng cũng như bất cứ một thời khắc nguy nan nào trong lịch sử, mà cha ông chúng ta nhiều lúc đã trải qua. Chính thế hệ những người Việt Nam hiện nay, phải chấp nhận đối mặt với thử thách, và chắc chắn phải tìm ra lối đi cho dân tộc.

Trung Quốc mạnh lên, hung hăng hơn, và chúng cũng đồng thời đang phạm sai lầm. Cái mặt nạ yêu chuộng hòa bình của Trung Quốc đã bị lột bỏ, sự tráo trở cũng thể hiện rõ khi thỏa ước DOC ký giữa TQ với ASEAN năm 2002 cũng đã bị Trung Quốc đạp dưới gót dày. Không còn bất cứ sự ngây thơ nào tin tưởng vào mục đích trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Đây là điều Việt Nam cần tận dụng và chớp lấy cơ hội.
Trước chiến lược thôn tính và xâm lăng nhất quán của TQ, Việt Nam cũng cần có một chiến lược nhất quán, xuyên suốt mọi chính sách, mọi lãnh đạo cầm quyền và thậm chí là mọi chế độ: “Nhẫn nhịn hết mức với Trung Quốc, nhưng luôn đề cao giá trị cốt lõi về chủ quyền, về toàn vẹn lãnh thổ, luôn sẵn sàng quyết chiến đến cùng một khi giá trị cốt lõi của Việt Nam bị đe dọa. Lấy mục tiêu thoát khỏi ảnh hưởng kìm kẹp về kinh tế, chính trị, văn hóa của Trung Quốc làm một chiến lược lâu dài. Xây dựng thêm các quan hệ đồng minh xuyên đại dương, phải nhắm tới quan hệ bền vững với Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ, EU làm nền tảng”

Hãy nhìn vào thực tế này, sau các hành động quấy rối của TQ với các tàu thăm dò của Việt Nam, duy nhất có công ty của Nhật Bản công khai tuyên bố: Chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam để thăm dò khai thác dâu khí, bởi chúng tôi tin rằng đó là lãnh hải không tranh chấp thuộc Việt Nam theo các quy định của luật pháp quốc tế. Lửa thử vàng, chúng ta phải trân trọng những người bạn đích thực, và cần có thêm những người bạn đích thực như thế.

Sự hung hăng gần đây của Trung Quốc, cũng tạo thành một cơ hội vàng để Việt Nam thực hiện các bước đi kiên quyết, nhất quán, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Hoa. Thể chế cầm quyền hiện nay ở Việt Nam, và toàn bộ người Việt Nam, phải chớp lấy cơ hội này để thoát khỏi cái vỏ giả tạo 16 chữ vàng hay 4 tốt mà Trung Quốc và đám chóp bu Việt Nam vẫn tụng niệm (và tôn trọng trên thực tế về phía Việt Nam) trong những năm qua. Bất cứ một ảo tưởng nào vào chữ tín, vào sự hòa hiếu của TQ cần phải được xóa bỏ triệt để. Trung Quốc đã xé mặt nạ, Việt Nam cần nhân cơ hội thực hiện các bước đi kiên quyết. Trên hết, anh muốn đề cập đến lĩnh vực kinh tế.

Nhiều người thường nói rằng, dứt khỏi dòng thương mại với Trung Quốc, Việt Nam sẽ khủng hoảng nặng nề. Điều đó đúng, nhưng sự tổn thất cũng đồng thời chính là cơ hội. Quan hệ giao thương với Trung Quốc, phần bất lơi thuộc về Việt Nam. Phần thặng dư 15 tỷ USD trong quan hệ thương mại với Trung Quốc với phần lợi nghiêng về người Tàu, là một nguồn công ăn việc làm quan trọng với Trung Quốc chứ không phải chỉ với chúng ta. Có nhiều nguyên nhân cho sự nhập siêu nặng nề này của Việt Nam, các hợp đồng thắng thầu của hàng lọat công ty TQ với các dự án trọng điểm ở Việt Nam (Giá rẻ, kết hợp nạn tham nhũng trong quan chức Việt Nam khiến câu chuyện càng trầm trọng, cố nhiên, đi kèm với nó là chất lượng vứt đi của công trình hàng tàu mà người đóng thuế Việt Nam phải gánh), nạn hàng lậu, tiền giả, chính sách tỷ giá bất đối xứng, tất cả đều là những lý do do bức tranh toàn cảnh. Bên cạnh đó, dòng thương mại với Trung Quốc còn khiến nền sản xuất Việt Nam bị bóp chết ở nhiều ngành. Yếu điểm về tính manh mún, chộp giật của người Việt bộc lộ rõ khi chúng ta trong nhiều năm trời không xây dựng được ngành công nghiệp phụ trợ, cái mà nếu có, Việt Nam đã trở thành một cường quốc có năng lực sản xuất, xuất khẩu mạnh và xuất siêu.

Tiếp tục cơ chế buôn bán với TQ như hiện nay, vĩnh viễn Việt Nam bị biến thành một công đoạn sản xuất hàng và xuất khẩu phụ trợ cho nền kinh tế TQ. Thặng dư của Việt Nam với Mỹ và EU, bị đổi lại toàn bộ bởi nhập siêu với Trung Quốc. Chúng ta, thay vì thặng dư thực sự, hóa ra chỉ là một công cụ xuất khẩu của người Tàu.

Giũ bỏ dòng thương mại với Trung Quốc, sẽ tạo thành một cú sốc nặng nề với Việt Nam, nhưng chúng ta cũng sẽ có cơ hội để thực sự xây dựng được một nền sản xuất mạnh, gồm cả ngành công nghiệp phụ trợ lẫn thành phẩm, cái sẽ tạo tiền đề để Việt Nam cất cánh trong tương lai.

Có nhiều lý do để anh Lãng tin chắc người Việt Nam sẽ thành công: Giá nhân công Việt Nam hiện vẫn rất cạnh tranh, thấp hơn nhiều so với khu vực và kể cả bản thân TQ. Công nghệ của các ngành sản xuất cơ bản, đặc biệt là ngành dệt, hóa chất cơ bản, tơ sợi, hòan toàn nằm trong khả năng tiếp cận và làm chủ của người Việt Nam. Không có lý do gì, Việt Nam không xây dựng được ngành công nghiệp phụ trợ, mà vốn hiện nay đang phải lệ thuộc tuyệt đối vào Trung Quốc do cái bẫy của cơ chế thương mại toàn cầu.

Trong khi có thể mua hàng từ TQ, tất nhiên không có doanh nhân nào của Việt Nam tự bỏ tiền ra đầu tư những nhà máy phụ trợ mới. Nhưng nếu Việt Nam nhân cơ hội TQ xé rách da mặt, quyết tâm gánh chịu tổn thất kinh tế, từ chính phủ, đến doanh nhân và người tiêu dùng, cùng đồng cam cộng khổ, chắc chắn chúng ta sẽ xây dựng được một nền kinh tế có cơ cấu phù hợp, đủ sức cạnh tranh và vươn lên trong hệ thống thương mại, sản xuất thế giới. Chúng ta phải luôn ý thức được rằng, Việt Nam có đủ lợi thế về nhân lực, về mặt bằng giá lao động và cả về chất xám. Vấn đề còn lại là, chúng ta có đủ dũng cảm, đủ quyết tâm để dứt bỏ khỏi sự lệ thuộc dễ dãi nhưng đau xót với hệ thống thương mại TQ hay không mà thôi.

Nếu anh Lãng đang nắm quyền, anh sẽ thực thi các biện pháp kiên quyết, từ từ nhưng nhất quán, dựng ra các hàng rào kỹ thuật để hàng TQ vào Việt Nam ngày một khó khăn hơn. Các lý do không khó, vì hàng TQ tồn tại quá phổ biến sự độc hại và các vấn đề về chất lượng. Cản hàng TQ lại, nền sản xuất VN sẽ gặp khó khăn, nhưng nếu chính phủ hỗ trợ thành phần doanh nhân Việt Nam một cách hợp lý, họ sẽ có đủ quyết tâm, dũng khí và nguồn lực để xây đắp những nhân tố cơ bản, bền vững cho nền sản xuất và nền kinh tế Việt Nam.

Gần đây Nguyễn Tấn Dũng, giữa cơn quay cuồng o ép chủ quyền của người Tàu trên biển Đông, và bài phát biểu đanh thép với cương vị thủ tướng Việt Nam tại Nha Trang, lại tiếp tục ra tuyên bố thúc đẩy dự án Bô xít Tây Nguyên. Đây là một điều đáng thất vọng, bởi nó cho thấy, trong một bộ phận thành phần nắm quyền chủ chốt, vẫn chưa đủ tư duy và dũng khí thoát ra khỏi bóng ma lợi ích cá nhân và lề lối cũ. Người Việt Nam cần đấu tranh bằng được với lối tư duy này. Nó đi ngược lại lợi ích sống còn của dân tộc chúng ta.

Xuyên suốt, chúng ta cần chấp nhận giảm dòng thương mại với Trung Hoa, chấp nhận các cú sốc với nền kinh tế, tự lực cánh sinh xiết chặt tay nhau xây dựng nền công nghiệp phụ trợ và nền kinh tế hướng ra xuất khẩu. Trong vòng 10 năm, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu, và chúng ta sẽ được tưởng thưởng bởi những thiệt hại và khó khăn trong hiện tại. Điều này, cũng phù hợp với đặc tính của người Việt Nam: Khi bị dồn đến chân tường, cái dân tộc ấy sẽ làm được nhiều kỳ tích. Đây là một chiến lược không lệ thuộc vào anh, hay các bạn, mà nằm ở Bộ Chính Trị Việt Nam. Chúng ta phải đành phải chờ xem, chúng ta đang được lãnh đạo bởi ai, và họ có thực sự đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.

Với các chiến thuật gây hấn không ngừng của của Trung Quốc trên biển, chúng ta cũng cần có một chiến lược xuyên suốt và nhất quán. Chúng ta nhường nhịn Trung Quốc, sẵn sàng tôn trọng lợi ích chiến lược của Trung Quốc, nhưng luôn có tinh thần và phải thực sự sẵn sàng quyết chiến đến cùng với TQ. Nhường nhịn, nhưng khi phải đánh, chúng ta sẵn sàng đánh, chấp nhận mọi cái giá phải trả và đánh đến cùng. Không có cách nào khác.
Khi TQ tôn trọng chúng ta, chúng ta cần tôn trọng họ hết mức có thể, thậm chí xếp Tàu trên chúng ta một bậc. Nếu giả sử TQ chấp nhận tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, Việt Nam cần sẵn sàng hợp tác cùng khai thác với TQ, và đảm bảo an ninh cho TQ. Nhưng khi chúng lấn tới, chúng ta phải đánh tới cùng.

Câu chuyện trước mắt, Việt Nam phải chặn giàn khoan TQ sẽ đưa vào Trường Sa bằng cách nào. Vin vào dư luận quốc tế, vào thỏa ước DOC đến giờ cho thấy là không đủ. Việt Nam cần kết hợp với Philipin, nước cũng bị ảnh hưởng trực tiếp, kiên quyết hình thành một hoạt động liên minh phối hợp, chặn bằng được giàn khoan của TQ. Vận dụng tối đa dư luận quốc tế, nhưng sẽ là không đủ, cần chuẩn bị các phương tiện ngăn cản trên thực địa, có phối hợp hành động với Philipin. Nếu anh là thủ tướng, anh sẽ họp bàn với Tổng thống Philipin để bàn về kế hoạch đó ngay từ bây giờ, ngay từ lúc này. Vấn đề ở chỗ là, anh Lãng đéo phải thủ tướng. Chúng ta đành chờ hành động của Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Chính Trị Việt Nam.

Giữ hòa bình tối đa, nhưng không ngại va chạm, chấp nhận đổ máu và chặn bước tiến của TQ bằng bất cứ cách nào. Nếu hôm nay TQ đặt thành công một giàn khoan nước sâu 3000 mét tại Trường Sa, trong năm sau sẽ có 10 giàn khoan Tàu Khựa mọc lên, và vùng biển tranh chấp biến thành biển Khựa trên thực tế. Chúng ta không thể lùi, dù phải trả bất cứ giá nào. Chiến thuật cần thực hiện, là phản đối công khai, vin vào luật biển, vào thỏa ước DOC để giành tính chính danh, lôi kéo ủng hộ quốc tế, dựa vào phương tiện, vào hỏa lực, vào sự kiên quyết để chặn hành động TQ trên thực địa, và dựa vào sự phá hoại ngầm, bằng đặc công nước, bằng lính cảm tử để phá hoại trên thực tế. Nếu dám làm và quyết tâm làm, Việt Nam sẽ thành công.

Đây cũng chính là thời kỳ, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy các bước tiến mạnh mẽ hơn về phía Mỹ, Nhật, Ấn, EU... Chúng ta dễ được cảm thông, vì chúng ta là một nước nhỏ, đang bị o ép, và bản thân lợi ích các nước lớn trên thế giới cũng đang bị đe dọa. Và điều này, cũng cần trông chờ vào dũng khí, vào khả năng vượt qua chính mình của tầng lớp chóp bu cai trị Việt Nam.

Tựu trung lại, lúc nguy nan này, cũng chính là lúc Việt Nam có cơ hội để thực sự bước sang một con đường khác, một giai đoạn khác, một nấc thang khác. Lợi ích dân tộc ở bờ vực sinh tồn, cũng chính là lúc thức tỉnh lương tri ở bộ máy cai trị tha hóa của Việt Nam. Cũng chính là lúc chúng ta có cơ hội, để tiến hành các cải cách, sẽ đem lại khủng hoảng trong ngắn hạn, nhưng lợi ích dài hạn của dân tộc sẽ được tưởng thưởng.

Và chính các bạn, bọn con bò, những thanh niên Việt Nam ưu tú, chưa được khai sáng và có dân trí đủ mức để làm chủ cuộc sống của chính mình. Đây cũng chính là lúc các bạn cần thức tỉnh, xiết chặt tay nhau đoàn kết chống lại mối họa cận kề, xiết chặt tay nhau, tạo thành sức mạnh đồng thuận để có những cải cách ở Việt Nam, cả về chính trị, về chiến lược phát triển kinh tế và đường lối ngoại giao. Số phận của chúng ta, nằm trong chính bàn tay chúng ta chứ không nằm trong tay thằng đéo nào cả.