Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Bầu cử Quốc hội 2016 - Để quyền công dân không uổng phí.



Ông Hồ Chí Minh trong một lần bầu cử Quốc hội

Ngày 22/06/2015, Quốc hội khóa 13 đã thông qua luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân làm khung pháp lý cho cuộc bầu cử dự kiến được tổ chức vào ngày 22/05/2016.
Cuộc bầu cử được tổ chức 5 năm một lần này là cơ hội duy nhất để người Việt Nam thực hiện quyền cử tri, để chọn lựa các ứng viên và bầu ra các đại diện dân cử tham ra vào Quốc hội. Về lý thuyết thì người dân đủ 18 tuổi trở lên, không bị tước quyền cử tri do phạm pháp hoặc hạn chế về năng lực hành vi, đều có quyền tự do lựa chọn các ứng viên từ danh sách và/hoặc đi hay từ bỏ quyền tham gia bỏ phiếu. Tuy nhiên việc lựa chọn loại hành vi nào trong số đó sẽ quyết định liệu quyền công dân có bị uổng phí không trong cái cơ hội 5 năm chỉ có một lần này.
Trên mạng facebook và nhiều mạng xã hội khác gần đến ngày bầu cử thường lan truyền nhiều lời tán thán, đại loại thuộc 3 dạng:
1. Bầu cử à? Chỉ là trò hề thôi. Danh sách ứng viên đã bị cơ cấu hết rồi, dù có bỏ phiếu hay không cũng thế. Tốt nhất là không đi, để chúng nó diễn trò với nhau.
2. Bầu cử Quốc hội? Cứ cho là đi bỏ phiếu đi, nhưng tốt nhất là gạch tên bằng hết danh sách ứng viên. Chẳng có lý do gì lại để tên những người toàn là cơ cấu sẵn.
3. Sẽ tham gia bỏ phiếu, và tôi sẽ cân nhắc thật kỹ về lựa chọn của mình.
Bài viết này sẽ không phân tích về khía cạnh đạo lý của lòng người, là có nên hoặc không nên đi bầu, và nếu có đi thì sẽ làm gì cho đúng với lương tâm của người bỏ phiếu? Tôi chỉ nói về khía cạnh pháp lý, căn cứ theo những điều luật mới được thông qua của Luật bầu cử quốc hội ngày 22/06/2015 mà dù muốn dù không, người ta vẫn buộc phải chấp nhận nó. Từ góc nhìn này, sẽ cùng bàn bạc xem mỗi cử tri nên hành động theo cách thức nào để quyền công dân của mình không uổng phí.
Là một cử tri, bạn nên làm gì?
Khi bạn có quá nhiều mối bận tâm và không thể tham gia bỏ phiếu, bạn có thể đơn giản là quên cuộc bầu cử đó đi và làm việc của mình, điều này hợp pháp. Hoặc nếu cách thức tổ chức, cách thức mà Mặt trận tổ quốc và các cuộc "hiệp thương" mà nó tiến hành để chọn lựa ra danh sách các ứng viên đối với bạn hoàn toàn không thể chấp nhận được và hoàn toàn thất vọng, bạn cũng có thể quay lưng với cuộc bỏ phiếu và để mặc nó diễn ra. Có lẽ bạn sẽ gặp phiền phức không ít với các đại diện chính quyền tại khu vực bỏ phiếu (thường sẽ gồm công an phường, tổ dân phố và các viên chức cấp phường - xã), vì họ sẽ tìm đến tận nhà nhắc nhở để bạn ra bỏ phiếu bằng được. Và nếu bạn lánh mặt không chịu ra, họ sẽ gợi ý để mẹ bạn hoặc một người thân nào đó trong gia đình mang theo thẻ cử tri của bạn và đi bỏ phiếu thay cho bạn. Vì thế, nếu thực sự bạn muốn thể hiện sự bất hợp tác và thất vọng bằng cách từ chối tham gia, hãy cất kỹ thẻ cử tri của mình và đừng để ai sử dụng nó.
Tuy nhiên, việc bạn từ chối tham gia liệu sẽ gây khó khăn gì cho cuộc bầu cử? Về lý thuyết, việc bạn không tham gia đồng nghĩa với bạn từ bỏ quyền quyết định của mình và sẽ phải mặc định chấp nhận kết quả cuộc bầu cử dù nó có thế nào chăng nữa. Tuy nhiên, nếu có nhiều người giống bạn, dẫn đến tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu không cao, thì Ủy ban bầu cử sẽ gặp khó khăn khi sử dụng cái điệp khúc có tần suất cao và vô nghĩa như những lời phản đối chủ quyền ở Biển Đông, đại loại :"Cuộc bỏ phiếu đã diễn ra với tinh thần dân chủ và thành công, với tỷ lệ cử tri tham gia đi bầu đạt 99,99%...vân vân …" Còn một tình huống khác, là nếu những người chán ghét cuộc bầu cử lớn tới mức có trên 50% cử tri tại một đơn vị bầu cử không tham gia. Trong trường hợp này, cử tri đã gây phiền toái lớn cho Ủy ban bầu cử vì họ sẽ buộc phải tổ chức bầu cử lại trong thời gian 15 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Tuy nhiên, nếu một cử tri tiếp tục ngoảnh mặt với kỳ bầu cử và không tham gia thì cũng vô nghĩa thôi. Theo khoản 4, điều 80 của Luật bầu cử quốc hội 22/06/2015 thì dù lần bầu cử lại này vẫn có dưới 50% cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia, thì kết quả của nó vẫn được công nhận và có giá trị pháp lý.
Kết luận rút ra: Đừng bỏ phí quyền công dân của mình bằng cách không tham gia cuộc bỏ phiếu. Việc đó có thể khiến bạn thỏa mãn nỗi ấm ức cá nhân, nhưng không giúp bạn tránh được một kết quả bầu cử không mong muốn. Do đó, hãy tham gia bỏ phiếu và chắc chắn rằng chính bạn chứ không phải ai khác sẽ bỏ lá phiếu của mình.
Đến đây có lẽ sẽ có nhiều người nghĩ đến lựa chọn thứ hai: Đi bỏ phiếu thì cũng đành, nhưng vì chẳng thấy ai là người xứng đáng và/hoặc tôi hoàn toàn không biết họ, nên tôi sẽ gạch tất. Điều này tất nhiên cũng toàn quyền của bạn, nhưng nó sẽ mang lại hiệu quả gì về mặt pháp lý? Đối chiếu theo mục d, khoản 1, Điều 74 của Luật bầu cử Quốc hội 22/06/2015, thì nếu gạch hết toàn bộ ứng viên, lá phiếu của bạn sẽ bị coi là không hợp lệ. Khi kiểm phiếu, các lá phiếu này sẽ được thống kê riêng trong Biên bản kết quả kiểm phiếu và nó cũng chẳng khiến bạn có thể từ chối chấp nhận kết quả cuộc bỏ phiếu. Do đó, kết luận rút ra ở đây là, chỉ trừ trong trường hợp quá cực đoan, đừng gạch hết trơn danh sách ứng viên và biến lá phiếu của mình thành bất hợp lệ. Chuyện đó không có ý nghĩa và quyền công dân của bạn cũng lãng phí hệt như lựa chọn không đi bỏ phiếu.
Vậy là chỉ còn một lựa chọn cuối cùng, bạn sẽ tham gia đi bầu và sẽ cân nhắc thật kỹ từng ứng viên trong danh sách. Dù rằng đại bộ phận những ứng viên ứng cử đều sẽ được quyết định qua hội nghị hiệp thương lần 3 của Mặt trận tổ quốc Việt Nam (Theo điều 48 và điều 49 Luật bầu cử quốc hội). Bạn có thể hoàn toàn không biết gì về những người này hoặc biết rất ít và do đó không tin tưởng họ. Tuy nhiên sẽ vẫn có những người mà bạn nên lưu tâm, đó là trong danh sách ứng cử cuối cùng lọt lưới sau Hội nghị hiệp thương lần 3, có thể sẽ vẫn có một số ứng viên tự ứng cử trụ lại được. Kỳ bầu cử 2016 này có một hiện tượng nổi bật, có nhiều ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội, đông hơn hẳn bất cứ một cuộc bầu cử nào khác trong quá khứ. Chỉ tính riêng tại Hà Nội đã có tới 47 người tự ứng cử. Con số này tại thành phố Hồ Chí Minh là 48 người. Số người tự ứng cử tại Hà Nội và Sài Gòn thậm chí còn vượt quá cả số người được Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội của Đảng Cộng Sản đề cử. Tất nhiên là họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn để có thể qua được hai vòng đấu sinh tử để loại bỏ các ứng viên, đặc biệt là cuộc Hiệp thương lần 3, cuộc hiệp thương cuối cùng chốt danh sách mà chỉ có sự tham gia của Mặt trận tổ quốc và các đại diện của các tổ chức chính trị - xã hội của Đảng được tham dự và các ứng viên tự ứng cử hoàn toàn không có bất cứ khả năng gì để can thiệp hoặc đấu tranh trong trường hợp họ bị hội nghị Hiệp thương cuối cùng này gạt bỏ. Tuy nhiên, hãy cứ tin rằng sẽ có đâu đó một số người lọt lưới, và nếu có, hãy chú ý đến những cái tên này. Họ đã mất rất nhiều công sức chỉ để làm một điều rất đơn giản là nộp được một bộ hồ sơ ứng cử hợp lệ cho Ủy Ban Bầu Cử. Có nhiều người cho rằng nỗ lực của họ là vô nghĩa, nhưng đó chính là những người đang góp những viên đá đầu tiên để biến cái lá phiếu của các cử tri trở lên có giá trị một cách thực thụ. Vì thế hãy chú ý đến họ.
Vì là một người theo trường phái nghi ngờ, hay nói đúng hơn là luôn có thói quen tư duy nhiều chiều trước khi rút ra kết luận. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn suy nghĩ của mình về những ứng viên tự nguyện. Không loại trừ khả năng trong số các ứng viên tự nguyện và lọt lưới sau cuộc hiệp thương lần 3, có những người không phải là “tự ứng cử” thực sự. Rất có thể có một số thuộc diện “quân xanh”, được cài cắm để cuộc bỏ phiếu có phần “dân chủ”. Vì thế, hãy suy xét thật kỹ về từng cái tên.
Tất cả những ứng viên tự nguyện hoặc ứng viên được đề cử đều được công bố tên công khai. Có thể dễ dàng tìm được thông tin về họ trên internet, dù ít hoặc nhiều. Ví dụ, chỉ cần gõ google, người ta có thể dễ dàng tìm thấy những thông tin dù chưa bao giờ được xác thực rằng ông Nguyễn Xuân Phúc và con cái ông ta có rất nhiều tài sản, với những tấm hình chụp sổ đỏ cận cảnh và những hợp đồng mua bán nhà đất nhiều chục tỷ đồng, với con dấu và tên tuổi rõ ràng. Dù rằng những thông tin này chưa bao giờ được kiểm chứng, nhưng nó cũng chưa bao giờ bị bác bỏ bởi bản thân ông Nguyễn Xuân Phúc, một điều mà đáng ra một chính khách ở vị trí của ông (và nhiều quan chức khác) nên làm để bảo vệ danh dự của mình, và quan trọng là để người dân có thể tin vào ông ấy vì ông ấy đang là lãnh đạo. Hoặc cũng bằng cách gõ google, người ta có thể tìm được những thông tin rằng ông Trần Đại Quang ít nhiều có liên quan tới vụ án Dương Chí Dũng, dù cái chết bất ngờ của Thượng Tướng Phạm Quý Ngọ, người bị ông Dũng tố cáo nhận trực tiếp số tiền hối lộ hàng triệu USD đã khiến vụ án Vinashin không lôi ra được thêm một quan chức nào có chức vụ cao hơn Dương Chí Dũng, tuy nhiên, những manh mối về sự liên quan của ông Quang về các lời khai thì vẫn còn đó. Dù rằng chúng sẽ không bao giờ được làm sáng tỏ, nhưng các bạn thấy đó, bằng việc tìm kiếm thông tin về các ứng viên, một cử tri sẽ biết thêm nhiều điều về họ. Cử tri có thể suy xét trên những thông tin đó, kiểm chứng nhiều chiều và cuối cùng quyết định xem liệu có ai là người họ có thể tin tưởng để ghi vào lá phiếu của mình. Dù chỉ cần để tên một ứng viên trong danh sách và gạch hết những người còn lại, lá phiếu của bạn vẫn là hợp lệ và chắc chắn nó sẽ gây phiền toái không ít cho những ai muốn sắp xếp để cử tri bầu cho một danh sách nào đó theo ý họ.
Vậy cuối cùng một cử tri nên làm gì với lá phiếu mà họ sẽ bỏ vào thùng phiếu trong ngày bầu cử? Đừng gạch xóa hết các ứng viên, đừng ghi thêm tên những người ngoài danh sách. Việc đó chẳng giúp ích gì ngoài việc biến lá phiếu thành không hợp lệ và vô nghĩa. Hãy cố gắng chọn ra dù chỉ một cái tên, và để chọn được, hãy giành thời gian trước ngày bỏ phiếu để search và tìm hiểu thật kỹ về từng ứng viên có trong danh sách. Nếu họ rất đáng ngờ và không xứng đáng, hãy loại bỏ họ, nhưng nếu may mắn mà tại đơn vị bầu cử của bạn, có ai đó bạn có thể tin tưởng, hãy giữ tên họ trong lá phiếu và gạch những người còn lại. Bằng cách đó, bạn có thể làm được một điều tốt hơn trong một tình huống không có nhiều lựa chọn, và ít nhiều, quyền công dân của một cử tri sẽ không uổng phí.
Giờ là lúc bàn về vấn đề thứ hai, đó là câu chuyện về các ứng viên tham gia ứng cử. Họ có hai loại, một là những người được các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan Đảng đề cử tham gia, và loại thứ hai, là những người tự ứng cử.
Với những người được đề cử, có lẽ không cần bàn nhiều về họ vì tất cả họ đều na ná giống nhau, y hệt như 13 kỳ bầu cử quốc hội trong quá khứ (có lẽ trừ cuộc bầu cử đầu tiên năm 1946). Việc của họ là chuẩn bị hồ sơ khi được đề cử, góp mặt trong các cuộc gặp cử tri, và hầu như hiếm ai trong số họ thực sự có một cương lĩnh vận động bầu cử với những cam kết cụ thể với cử tri là họ sẽ làm gì nếu được bầu. Chúng ta sẽ tạm để họ qua một bên để xem xét tới một danh sách lý thú hơn nhiều, là những người tự ứng cử.
Kỳ bầu cử Quốc hội khóa 13 năm 2011, tôi có biết đến hai trường hợp tự ứng cử. Một là luật sư Trần Quốc Quân và người thứ hai là Luật sư Võ An Đôn. Qua những lời chia sẻ của ông Nguyễn Quang A, bà Lâm Ngân Mai và nhiều ứng viên tự ứng cử khác trong lần bầu cử này, có thể thấy những khó khăn và phiền toái không ít của các ứng viên này trong quá trình làm hồ sơ ứng cử. Thậm chí nhiều người trong số họ đã phải bỏ cuộc, vì đến tận ngày hết hạn nộp hồ sơ mà họ vẫn không thể có được xác nhận từ địa phương vào hồ sơ ứng cử sau khi chạy lên chạy xuống đến vài chục lần. Đó là chuyện của năm 2016, quay ngược lại năm 2011, ông Lê Quốc Quân và ông Võ An Đôn khi tự ứng cử, ắt hẳn cũng chẳng dễ dàng gì để qua được vòng nộp hồ sơ. Nhưng ông Quân sau đó đã bại trận thê thảm tại vòng “Lấy ý kiến cử tri tại nơi cư trú” (Điều 45 – Luật bầu cử quốc hội). Người ta đã mời đến một hội nghị cử tri một nhóm nhỏ vài chục người, dù rằng ý kiến của họ không thể đại diện cho toàn bộ các cử tri tại đơn vị bầu cử mà ông Quân ứng cử, tuy nhiên ông Quân đã bị đấu tố tơi bời bởi nhóm người này và bị loại bỏ ngay từ vòng lấy ý kiến cử tri. Ông Võ An Đôn thì vượt được qua vòng lấy ý kiến cử tri, ông cũng vượt qua nốt được vòng lấy ý kiến tại nơi làm việc. Tuy nhiên đến lần hiệp thương thứ 3, cũng là lần hiệp thương cuối cùng mà chỉ có sự tham gia của Mặt trận tổ quốc và các đại diện các lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận; Đại diện Hội Đồng bầu cử quốc gia; Ủy ban thường vụ quốc hội và chính phủ được mời tham dự hội nghị hiệp thương cuối cùng này (Điều 38 - Luật bầu cử quốc hội), ông Võ An Đôn đương nhiên không được tham gia và bị loại mà chẳng biết tại sao, dù ông ấy là luật sư, chẳng kém ai về học vấn và đạt tỷ lệ 100% ủng hộ tại các vòng lấy ý kiến tại địa phương lẫn nơi làm việc.
Vấn đề chính với những người tự ứng cử, đó chính là cái hội nghị hiệp thương lần thứ 3. Vì điều 48 và điều 49 trong Luật bầu cử quốc hội ngày 22/06/2015 hoàn toàn chẳng có một quy chế rõ ràng nào mà chỉ ghi một cách chung chung là “căn cứ vào tiêu chuẩn của ĐBQH, cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH đã được Ủy ban thường vụ quốc hội điều chỉnh ần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc Hội”. Và đây chính là vấn đề. Với một dòng quy định chung chung 74 từ đơn, cái hội nghị hiệp thương lần 3 gồm toàn đại diện cơ quan trực thuộc và chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản này có toàn quyền giữ lại hoặc loại bỏ bất cứ ai có hoặc không trong danh sách ứng viên cuối cùng.
Do đó, những ứng viên tự ứng cử, trừ khi vận động được một lực lượng cử tri ủng hộ lớn đến mức người ta khó có thể gạt bỏ họ, (hoặc có thể là những thành phần quân xanh) hoặc những người mà Hội nghị hiệp thương lần 3 cho là ít nguy hại đến những ứng viên được đề cử bởi các tổ chức Đảng, còn không thì họ khó có thể qua được cửa ải cuối cùng này.
Những khó khăn của các ứng viên tự ứng cử còn có thể đến từ Điều 61 – Luật bầu cử quốc hội. Cụ thể là họ có thể rơi vào một chiến dịch tố cáo với những lời cáo buộc nào đó, mà UBBC có thể vin vào đó để loại ứng viên ra với lý do cần có thời gian điều tra làm rõ.
Có thể nói con đường của ứng viên tự ứng cử để có thể xuất hiện được trên danh sách ứng cử viên cuối cùng là chông gai và giống như một khe cửa hẹp. Đặc biệt là với những người có uy tín lớn trong xã hội. Họ có thể có nhiều người ủng hộ nhưng vì luôn là những người cất lên tiếng nói phản biện đối với các bất cập xã hội và do đó/đương nhiên, chẳng được cơ quan hay tổ chức Đảng nào đề cử, mà chỉ có thể tham gia bằng con đường tự ứng cử.
Vậy các ứng cử viên tự ứng cử nên làm gì? Sự khác biệt lớn nhất trong kỳ bầu cử Quốc hội 2016 so với quá khứ là sự tồn tại của mạng xã hội với số lượng người tham gia vô cùng đông đảo. Nếu như trong quá khứ, các ứng viên tự ứng cử hầu như chẳng có cách gì để chuyển tải thông điệp của mình tới cử tri khi báo chí dưới sự kiểm soát của Đảng chỉ đơn giản là lờ họ đi hoặc tệ hơn là viết bài bôi nhọ họ, thì năm 2016 này, bất cứ ứng viên nào cũng có thể dùng mạng xã hội để công bố thông tin về mình, về cương lĩnh tranh cử của mình tới một nhóm đối tượng vô cùng đông đảo là những người dùng mạng xã hội và internet ở Việt Nam (hiện đã tới 34 triệu người, một con số vô cùng lớn). Tận dụng được mạng xã hội, các ứng viên tự ứng cử sẽ có cơ hội lớn nhất để tạo sự khác biệt cho chính mình, cho chính những cử tri và cho cả tương lai của đất nước. Họ nên làm những điều này:
1. Hãy đọc thật kỹ Điều 68 Luật bầu cử quốc hội – Về những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử. Đại loại những hành vi này gồm tuyên truyền trái hiến pháp và pháp luật, hoặc làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử; Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình; Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri. Các ứng viên hãy xem xét kỹ để thứ nhất là tránh đẩy mình vào tình huống phạm luật, và thứ hai là thực hiện quyền giám sát. Ví dụ nếu ứng viên thấy một ứng viên khác, ví dụ như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử chẳng hạn, thì hoàn toàn có thể gửi khiếu nại tố cáo tới Hội đồng bầu cử quốc gia để loại và xóa tên người vi phạm ra khỏi danh sách ứng cử.
2. Công bố thông tin về mình và cương lĩnh tranh cử qua mạng xã hội. Điều quan trọng nhất với một ứng viên là sự liêm chính, nên hãy công bố một cách ngay thẳng, bởi nếu chỉ công bố điều tốt mà không nhắc tới những cái chưa hay, họ có thể rơi vào cái bẫy của một làn sóng bôi nhọ và mất hoàn toàn hình ảnh trước mắt cử tri. Đất nước này đã quá thiếu sự liêm chính và ngay thẳng, vì vậy, các ứng viên tự ứng cử hãy cho người dân thấy niềm hy vọng bằng sự ngay thẳng của họ.
3. Hãy tập trung vào những gì mình mong muốn làm, sẽ làm và có thể làm trong vai trò ĐBQH. Hãy làm rõ các mục tiêu để cử tri có thể thực sự thấy nếu đặt sự tin tưởng vào một ứng viên, họ sẽ làm được gì cho cử tri, khu vực mà họ được bầu và cho đất nước.
4. Hãy sử dụng mạng xã hội để kêu gọi việc thành lập một Nhóm tình nguyện vận động bầu cử cho mình. Nếu một ứng viên có thể có một nhóm tự nguyện giúp mình trong các công việc như vận động lấy chữ ký ủng hộ của cử tri, vận động truyền tải thông điệp của ứng viên tới các cử tri, thì xác suất và cơ hội họ được ủng hộ sẽ lớn hơn rất nhiều. Và do đó họ cũng sẽ khó bị gạt bỏ hơn trong hội nghị hiệp thương cuối cùng của Mặt trận và các cơ quan Đảng.
5. Rất quan trọng, bất cứ một ứng viên tự ứng cử nào, để tránh mình bị biến thành một đối tượng bị đấu tố trong cuộc họp lấy ý kiến cử tri tại địa phương, vốn là một cuộc họp có khả năng cao bị giàn xếp. Mọi ứng viên đều nên nhớ đến một lực lượng được gọi là Dư Luận Viên, những đối tượng vô cùng hung hãn và cuồng tín không kém gì lực lượng Hồng Vệ Binh của Mao Trạch Đông năm xưa. Đừng mong rằng lý lẽ hay cương lĩnh tranh cử của bạn sẽ thuyết phục được nhóm này. Vì thế, để tránh mình bị đấu tố trong cuộc họp với khả năng cao sẽ xuất hiện dư luận viên này, mỗi ứng viên cần cố gắng lấy được chữ ký ủng hộ hợp pháp của tối thiểu 100 cử tri tại ngay khu vực mình sinh sống (Và càng nhiều càng tốt chữ ký ủng hộ của bất cứ một cử tri nào trên cả nước, thông qua nhóm tình nguyện lấy chữ ký hoặc thông qua mạng xã hội, cách tốt nhất vẫn là các chữ ký trực tiếp). Bằng cách đó, ngay cả nếu tại cuộc họp một ứng viên có thể trở thành cái đích đấu tố của vài chục “cử tri” tại tổ dân phố, thì cũng hoàn toàn có thể tự bảo vệ mình bằng cách trưng ra danh sách chữ ký ủng hộ của các cử tri ngay tại địa phương, và lập luận một cách thuyết phục rằng: “Các vị ngồi đây có thể không ủng hộ tôi, nhưng các vị chỉ có vài chục người, còn tôi thì có ít nhất cả trăm (hoặc nhiều hơn) các cử tri khác ngay tại chính địa phương này ủng hộ. Và nếu cuộc họp lấy ý kiến này là hoàn toàn bất lợi, thì một ứng viên có thể đòi hỏi vấn đề danh sách cử tri đã ký ủng hộ mình phải được ghi nhận vào biên bản. Đồng thời có thể sao lưu và gửi cho Hội đồng bầu cử về danh sách chữ ký này để làm cơ sở cho các khiếu nại hoặc ít nhất cũng tạo áp lực khiến ứng viên đó khó bị loại một cách vô lý do tại hội nghị hiệp thương lần 3.
6. Và nếu sau khi đã làm tất cả những điều trên mà ứng viên vẫn bị loại bỏ khỏi danh sách sau cùng thì cũng đừng vội buông xuôi. Hãy chiến đấu tới cùng và đừng vội đầu hàng bằng cách khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về việc lập danh sách những người ứng cử. Đầu tiên hãy khiếu nại đến Ủy Ban bầu cử cấp tỉnh, yêu cầu họ làm rõ tại sao và vì lý do nào tên mình bị gạt bỏ. Và khi Ủy Ban cấp tỉnh chối bỏ vì một lý do nào đó, hãy tiếp tục khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Tất nhiên là hy vọng sẽ không có gì nhiều nếu một khi họ đã quyết định loại bạn ra. Nhưng bằng cách chiến đấu tới cùng, thứ nhất là một ứng viên sẽ khiến những cử tri càng hiểu rõ hơn về kỳ bầu cử, và thứ hai, họ cũng khiến Hội đồng bầu cử “phiền toái” hơn vì không thể dễ dàng thực hiện được việc chia bài tự tung tự tác theo ý mình. Mỗi một hành động dù nhỏ nhất để khiến đại chúng hiểu rõ hơn về kỳ bầu cử, trân trọng hơn về quyền công dân của mình thì dù chưa đạt được kết quả gì ngay hôm nay, nó cũng sẽ là một bút toán được cộng sổ cho tương lai.
7. Vì quá trình kiểm phiếu tại các điểm bỏ phiếu, các ứng viên có toàn quyền chứng kiến. Nên nếu có một ứng viên tự ứng cử thực sự nào có mặt trong danh sách cuối cùng, hãy thực hiện quyền giám sát của mình bằng cách yêu cầu chứng kiến quá trình kiểm phiếu. Trong bối cảnh bầu cử Việt Nam hoàn toàn không có các quan sát viên quốc tế, thì có lẽ những nỗ lực như thế dù ít dù nhiều cũng sẽ góp phần khiến các giá trị xã hội được tôn trọng hơn.
Có lẽ cần nhấn mạnh với các ứng viên tự ứng cử mà đã được hội nghị hiệp thương lần 2 “vui vẻ” thông qua ngày 17/03/2016. Đơn giản là chưa có ai bị loại bỏ, bởi “họ” sẽ chưa làm điều đó ngay. Sẽ có một chiến dịch cho điều đó tại các vòng lấy ý kiến cử tri tại nơi cư trú, tại nơi làm việc và cuối cùng là hội nghị hiệp thương lần 3, khi ứng viên không được quyền tham gia và cũng chẳng có cơ hội nêu ý kiến. Ngoài ra, hãy cứng cỏi vì chắc chắn sẽ có một làn sóng bôi nhọ với những ứng viên có tiềm năng. Chưa gì thì hiện nay đã có những kết luận khơi khơi rằng nhiều ứng viên là thiếu tiêu chuẩn, hoặc những lời cáo buộc cũng chẳng thấy ai chịu chứng minh của Tiểu ban bầu cử rằng có những ứng viên nhận tiền từ nước ngoài để tự ứng cử. Chắc chắn sẽ còn những cáo buộc khác, có thể còn kém sạch sẽ hơn nhiều và vì thế mỗi ứng viên tự ứng cử thực sự (tôi không muốn nhắc tới “quân xanh”) hãy thực sự vững vàng. Tương lai của đất nước này, phụ thuộc một phần quan trọng vào sự ngay thẳng và vững vàng của các vị.
Cuối cùng thì hy vọng qua bài viết này, nhiều cử tri và có lẽ là cả một số ứng viên tự ứng cử sẽ có thêm thông tin để làm tốt hơn những điều mình nên và có thể làm. Cuối cùng thì mọi điều cũng chỉ để quay lại xuất phát của vấn đề: “Để quyền công dân không uổng phí, nếu không phải cho hôm nay thì cũng là cho ngày mai.”

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

Vũ khí nước của Trung Quốc và việc giải lời nguyền sông MeKong.

Tháng 3/2016 trong lúc tình hình ngày một nóng trên biển Đông thì tình trạng khô hạn tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long khiến người Việt Nam choáng váng. Vùng đất trù phú và là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, đóng góp chủ yếu vào thành tích xuất khẩu gạo từ 7 - 8 tr tấn một năm này đang trong tình trạng khô hạn và nhiễm mặn nặng do thiếu nước ngọt. Nguyên nhân trực tiếp do sự suy giảm dòng chảy trên sông MeKong.




Sông Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ m3 tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.




Là nước chịu ảnh hưởng nặng nhất của bất cứ thay đổi dòng chảy nào trên sông MeKong, Việt Nam còn đồng thời chịu tác động kép của tình trạng môi sinh toàn cầu, cụ thể là tình trạng nóng lên của trái đất và nước biển dâng. Điều đó khiến toàn bộ vùng hạ lưu sông Mekong ở Việt Nam sẽ có những biến động thay đổi tuyệt đối về môi sinh trong khoảng một thập kỷ tới. Tình trạng chung là thiếu nước trên lưu vực sông, tình trạng xâm nhập mặn và hạn hán sẽ ngày càng gia tăng và đó là một xu thế không thể đảo ngược.
Ủy hội sông Mekong (tiền thân là Ủy ban sông Mekong 1957) đã được thành lập từ năm 1995 với sự tham gia của 4 nước tại lưu vực sông, gồm Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia. Dù là nước kiểm soát dòng chảy trực tiếp tại phần thượng nguồn sông Mekong, nhưng Trung Quốc từ chối tham gia hiệp hội. Trung Quốc cũng là nước xây dựng những đập thủy điện lớn đầu tiên trên dòng chính của sông Mekong, cũng là nước đang lên kế hoạch và đầu tư xây nhiều đập thủy điện nhất để kiểm soát con sông này. Tính đến nay TQ đã hoàn thành ít nhất 8 đập chính trên sông Lan Thương (dòng chính tại thượng nguồn sông Mekong) và đang xây tối thiểu thêm 4 đập nữa. Trung Quốc cũng là nhà đầu tư chủ yếu đứng sau xây dựng các đập thủy điện tại dòng chính hạ lưu sông Mekong ở Lào và Campuchia (Việt Nam và Thái Lan cũng đóng góp vào quá trình xây dựng các đập này). Ủy hội sông Mekong đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu khoa học và đưa ra nhiều cảnh báo để hạn chế và tạm dừng quá trình xây các đập trên sông Mekong để đảm bảo sự phát triển bền vững của tất cả các nước mà con sông chảy qua. Theo tính toán của Ủy hội này, lợi ích thu được từ việc phát triển thủy điện nhỏ hơn rất nhiều so với các tổn thất mà nó gây ra, cụ thể về biến đổi môi trường, thiệt hại nghề cá, thiệt hại nông nghiệp, sự tuyệt chủng của nhiều loại động thực vật... Tuy nhiên, sự cảnh báo và các kiến nghị của Ủy hội sông Mekong bị vô hiệu hóa hoàn toàn với lập luận của Trung Quốc: “Trung Quốc có toàn quyền xây dựng bất cứ thứ gì trên sông Mekong ở phần lãnh thổ của nước mình”. Thái độ vô trách nhiệm hoàn toàn này của TQ đã vô hiệu hóa hoàn toàn các nỗ lực bảo vệ việc khai thác bền vững dòng sông quốc tế. Bị thúc đẩy và nêu gương bởi lối tư duy ích kỷ của TQ, tất cả các nước tại hạ lưu sông Mekong gồm Lào, Thái Lan và Campuchia đều lên kế hoạch xây dựng những đập thủy điện cực lớn trên dòng chính con sông. Và Trung Quốc đang đẩy nhanh quá trình này với vai trò là nhà đầu tư cung cấp vốn chính yếu.




Phân bố các dự án thủy điện trên sông Mekong

Các đập thủy điện sẽ biến khoảng 55% độ dài sông ở hạ lưu thành những hồ chứa nước và làm biến đổi dòng chảy, từ đó thay đổi bản chất tự nhiên cũng như môi trường sinh thái của dòng sông. Vấn đề đáng nói ở đây là trong 12 thủy điện trên dòng chính sông Mekong (không tính dòng nhánh) sắp được xây dựng thì lại không có thủy điện nào ở Việt Nam, trong khi tổn thất mà quốc gia nằm cuối hạ nguồn như Việt Nam phải gánh chịu là lớn nhất. Có thể nói bằng chính sách và các hành động trên thực tế của mình, Trung Quốc đã rất thành công trong việc loại bỏ hoàn toàn vai trò của Ủy hội sông Mekong và biến việc kiểm soát nguồn nước tại con sông quốc tế này thành một thứ vũ khí rất lợi hại. Tất nhiên, đích nhắm chủ yếu của nó là quốc gia nằm ở hạ nguồn, nơi con sông chảy ra biển, chịu thiệt hại lớn nhất, và đó chính là Việt Nam.
Không phải đến bây giờ Việt Nam mới nhận thức được tính nguy cấp của tình hình. Việt Nam từng nỗ lực nhiều lần để trì hoãn tiến độ xây đập Xayaburi tại Lào và khuyến cáo các nước Thái Lan, Campuchia cùng phối hợp để khai thác dòng sông bền vững. Tuy nhiên bài toán kinh tế được mất của các quốc gia này không giống Việt Nam. Và họ không thể ngồi yên hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để duy trì tính bền vững của con sông khi Trung Quốc đã phá hoại nó có hệ thống trên thượng nguồn. Trong mọi tình huống, Việt Nam phải chấp nhận thực tế rằng nguồn nước chảy về Việt Nam trên lưu vực sông Mekong sẽ ngày càng giảm trong mùa khô hạn.




Dữ liệu thủy văn năm 2010, lượng nước chảy qua Châu Đốc thấp nhất trong 85 năm qua

Nguồn nước suy giảm trên sông Mekong, tình trạng xâm nhập mặn tăng nhanh và nguy cơ nước biển dâng đang là những đe dọa sống còn đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, thực sự đây đã là một lời nguyền sông Mekong đối với vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Và ngày 10/03/2016, trước tình trạng khô hạn trên diện rộng ở miền Tây, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc phải gửi công hàm cho Trung Quốc để đề nghị TQ xả đập thượng nguồn giúp cải thiện tình hình. Trái với thái độ hung hăng tại biển Đông, TQ hỷ hả nhận lời. Liệu có phải TQ tự nhiên tốt đột xuất với Việt Nam như vậy chăng? Hoàn toàn không, Trung Quốc đang rất vui và muốn công bố với thế giới và người Việt Nam rằng, vũ khí nguồn nước sông Mekong của Trung Quốc với Việt Nam đã thành hiện thực trên thực tế.
Nó giống như một lời nguyền ám ảnh dai dẳng. Vậy đâu là lời giải cho lời nguyền không thể tránh khỏi này???
Nhiều chuyên gia của Hà Lan khi sang nghiên cứu tình trạng ngập mặn tăng nhanh và tính toán ảnh hưởng của nước biển dâng, đã đưa ra dự toán cần tới trên dưới 50 tỷ USD và nhiều thập niên để Việt Nam xây dựng các con đập tại các cửa sông nếu muốn kiểm soát tình trạng xâm nhập mặn do dòng chảy suy thoái và tình trạng nóng lên của trái đất (Hà Lan, nước có phần lớn lãnh thổ nằm dưới mực nước biển là nước có kinh nghiệm nhất trong việc xây dựng các con đê lấn biển và đập kiểm soát dòng chảy tại cửa biển). Rõ ràng điều này là không tưởng, vì Việt Nam không đào đâu ra ngần ấy tiền và phương án xây dựng các đập kiểm soát dòng chảy cửa sông với một địa hình phức tạp như Việt Nam hiện không có lời giải trên thực tế. Cũng không thể trông đợi gì vào việc Trung Quốc tự nhiên bột phát thiện tâm, dỡ bỏ các đập thượng nguồn và tự nguyện tham gia Ủy hội Sông Mekong để phát triển môi trường bền vững.
Cần có một tư duy khác trong việc phát triển và khai thác đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam. Việt Nam trước hết phải xây dựng các chiến lược và kế hoạch dựa vào chính mình, chứ không thể để lệ thuộc vào các nước khác. Trong những ngày khô hạn kỷ lục ở miền Tây, có một bức thư rất gây chú ý của Giáo sư Võ Tòng Xuân, một chuyên gia nghiên cứu nông nghiệp gắn bó nhiều năm với hạ lưu sông Mekong, nguyên văn:
“Xin đừng quá bi quan trước hiện tượng lúa bị chết mặn như báo chí đã loan tin. Họ không loan tin về các nông dân nhờ có nước mặn mà nuôi tôm rất thành công (giá trị gấp 3-4 lần lúa), và họ không hề lên tiến dùm những nông dân nuôi tôm bị chết vì thiếu nước mặn do địa phương ngăn mặn để cứu lúa, nhưng lúa không đủ nước ngọt nên lúa cũng thiệt hại theo tôm.
Đây là lỗi của Bộ Nông nghiệp và chánh quyền các tỉnh có bờ biển tiếp giáp, chỉ biết trồng lúa-lúa-lúa bất chấp thiên nhiên không cho phép, họ tốn hàng chục ngàn tỉ đồng để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau, nhưng kết quả là nước ngọt vẫn không đủ cho ngọt hóa. Chỉ mấy ông làm thủy lợi mới hưởng lợi vì có ximăng, sắt thép, bê tông để xơi.
Chúng ta đều thấy rằng thời kỳ cả nước ai ai cũng lo cho an ninh lương thực đã qua rồi vì nay ta sản xuất dư thừa để xuất khẩu 7-8 triệu tấn/năm với giá bèo như vậy. Nông dân trồng lúa của ta đã 40 năm rồi mà vẫn là những người nghèo, họ bị hô hào phải trồng lúa thật nhiều (để cho người ta được thăng quan tiến chức). Đã đến lúc cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương và các phương tiện truyền thông do Ban Tuyên Giáo chỉ đạo phải đổi mới tư duy làm kinh tế, chọn lựa hướng sản xuất và tìm đầu ra cho các hướng đó thế nào để có giá trị cao hơn mà không tiêu xài quá nhiều nước ngọt - tài nguyên thiên nhiên không tái tạo. Tư duy về nước mặn là kẻ thù, phải ngăn mặn, không còn hợp thời này nữa. Phải coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với tôm, cua... một cách bền vững hài hòa thiên nhiên. Những vùng theo hệ thống lúa-tôm của Sóc Trăng hiện nay được giàu có nhờ trồng lúa rất thành công trong mùa mưa và sau khi dứt mưa thì cũng vừa gặt lúa xong, liền cho nước mặn vào nuôi tôm. Đến mùa mưa tới, nông dân trở lại trồng lúa.
Chúng ta hãy thay đổi tư duy, không buộc nông dân trồng lúa quá nhiều để cho quan lên chức và nuôi dân các nước khác có ăn để họ làm giàu nhờ sản xuất các sản phẩm giá trị hơn lúa.
GS.TS Võ Tòng Xuân gửi trực tiếp qua e-mail Sài Gòn 8/3/2016
Prof. Dr. Vo-Tong Xuan Rector Emeritus, An Giang University Rector, Nam Can Tho University”
Ý kiến của giáo sư Võ Tòng Xuân rất gây chú ý, và có lẽ là một gợi mở tốt cho vấn đề. Nếu việc suy giảm dòng chảy trên sông Mekong là không thể thay đổi được, nếu tình trạng xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long là không thể chặn lại được, cũng giống như Việt Nam không thể làm gì để thay đổi thực trạng nước biển dâng trong tương lai, thì thay vì việc chặn dòng xâm nhập mặn, hãy tìm cách khai thông và sống chung với nó.
Dự tính sẽ có tới 10 tỉnh ở Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nặng do tác động chung của vấn đề, tương đương với 29.827 km2 (lưu ý rằng diện tích này gần xấp xỉ 10% diện tích lãnh thổ toàn Việt Nam), trong đó 38% diện tích đất sẽ bị ngập hoàn toàn. Mức tác động do đó vô cùng lớn. Và để thích ứng với tình hình, cần có những chiến lược quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long hoàn toàn khác.




Thống kê các tỉnh chịu ảnh hưởng do biến động của tình hình

Có 3 giải pháp Việt Nam cần thực hiện ngay lập tức để đối phó với tình hình:
1. Dành ngay một ngân khoản ngay lập tức cho việc nghiên cứu thống kê các vùng đất chịu tác động trực tiếp của xâm nhập mặn, không còn thích hợp với trồng lúa, đặc biệt là các vùng có khả năng ngập trong tương lai do nước biển dâng, để xây dựng lại quy hoạch về phân vùng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Giữ lại những khu vực cho năng xuất cao đối với sản xuất lúa gạo, và phát triển đồng bộ các vùng này với các giống lúa có chất lương cao để tạo tương hiệu và nâng cao chuỗi giá trị cho người dân. Với các vùng ngập mặn, quy hoạch lại định hướng phát triển nông nghiệp để chuyển sang thủy hải sản.
2. Nghiên cứu chi tiết các kế hoạch khai thông dòng chảy để dẫn nguồn nước biển vào sâu các vùng ngập mặn phục vụ cho quy hoạch nuôi tôm. Đồng thời nghiên cứu và xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt dẫn tới các vùng này thay thế cho nguồn nước mặt và nước ngầm, để đảm bảo duy trì đời sống của con người. Chắc chắn chi phí cho những dự án này sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với những dự án thủy lợi tốn kém nhiều chục nghìn tỷ từ trước đến nay ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
3. Phối hợp việc xây dựng các vùng nuôi trồng thủy sản mới với sự phát triển của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy hải sản. Nghiên cứu kỹ yếu tố thị trường và làm tốt công tác dự báo, tránh việc chuyển đổi ồ ạt sang nuôi trồng thủy sản khiến nguồn cung tăng đột biến và không tháo gỡ được đầu ra. Chính phủ phải làm tốt vai trò của mình trong việc hỗ trợ và đào tạo kiến thức nuôi trồng cho người dân, bao gồm cả việc nghiên cứu và kiểm soát con giống, thức ăn, cảnh báo thị trường ... để đảm bảo quá trình chuyển đổi là phù hợp và mang lại lợi ích bền vững cho người dân thay vì việc để họ bơ vơ tự bươn chải.
Kết luận:
Vũ khí nước của Trung Quốc đã thành hình và lời nguyền sông Mekong đối với Việt Nam cũng đã thành hiện thực. Không thể giao phó số mệnh quốc gia cho lòng thương hại của đối phương, Việt Nam cần và hoàn toàn có thể ứng phó được với thực trạng này bằng chính các giải pháp từ bên trong của chính mình. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn nằm trong các nỗ lực của chính quyền vì không người dân nào có thể tự phát làm quy hoạch. Các kế hoạch đầu tư khai thông dòng chảy dẫn nước biển và hệ thống cấp nước sinh hoat cho các vùng ngập mặn cũng chỉ có thể được thực hiện với vai trò nhà nước. Nếu nỗ lực tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể đối mặt với tình hình và biến thách thức thành cơ hội:
- Giá trị kinh tế của nuôi trồng thủy hải sản cao hơn nhiều so với nông nghiệp truyền thống;
- Việc suy giảm diện tích trồng lúa khiến giá trị các sản phẩm trên vùng trồng lúa còn lại sẽ cao hơn theo quy luật thị trường. Và chính việc suy giảm này sẽ làm tăng ý thức giúp người dân có ý thức khai thác các giống lúa có giá trị cao hơn, để sử dụng hiệu quả hơn phần diện tích lúa còn lại.
Tất cả những điều này sẽ giúp Việt Nam thích ứng bền vững với tình hình. Và điều quan trọng nhất là vẫn kiểm soát được vận mệnh quốc gia trong chính bàn tay mình chứ không phải đặt nó vào tay người khác.
Nguồn tham khảo:
http://baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-...

P/S Có một số comment giống nhau nêu sự băn khoăn về cùng một câu hỏi, đại loại chuyện gì xảy ra nếu Việt Nam quy hoạch nuôi thủy sản mà TQ xả nước ồ ạt tại các đập? Và một số băn khoăn khác về an ninh lương thực, về vấn đề loại tôm nuôi trồng liệu có sống được khi độ mặn tăng cao? Các câu hỏi này đã được trả lời nhưng vẫn tiếp tục có thêm những câu hỏi giống thế của những bạn đọc sau. Xin cập nhật phần trả lời lên đây để các bạn dễ theo dõi:
Việc TQ xả nước ồ ạt tại các đập do nó quản lý để phá vỡ quy hoạch nếu có của Việt Nam là điều nằm ngoài tầm với của TQ, vì toàn hệ thống sông Mekong hiện có tới 94 đập trên các dòng chính và dòng nhánh chảy qua nhiều nước khác nhau. TQ không thể thao túng hết được vì mỗi quốc gia đều sẽ sử dụng và điều hành đập phục vụ cho lợi ích của chính họ. Mỗi hệ thống đập có chu trình tích nước khác biệt phụ thuộc đặc điểm lưu vực và hồ chứa riêng, không thể có tình huống phối hợp xả đồng loạt trên toàn hệ thống đập. Có thể lấy ví dụ ngay từ hệ thống đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình của Việt Nam. Ngay cả với hai hệ thống nằm cùng lưu vực và thuộc hoàn toàn sự điều phối của Việt Nam, cũng khó có thể xảy ra tình huống đồng thời xả đập ồ ạt. Ngoài ra, tình trạng nước biển dâng sẽ là không thể đảo ngược, việc này sẽ làm biến đổi tình hình bất kể tình trạng dòng chảy sông Mekong. Giải pháp bền vững nhất của Việt Nam quy hoạch cho vùng thủy hải sản, là xây dựng hệ thống kênh dẫn nước biển vào sâu các vùng quy hoạch. Điều đó sẽ giúp bảo đảm nguồn nước nuôi tôm. Tất nhiên, việc nghiên cứu và đánh giá tác động trong mùa lũ luôn phải xem xét kỹ. Và đó là việc của các nhà chuyên môn.
Với những lo ngại rất có lý về an ninh lương thực và về giống loại thủy sản nuôi trồng phù hợp khi độ mặn tăng cao. Những băn khoăn này là một bổ sung tốt để xem xét vấn đề kỹ càng hơn. Hãy xem bản đồ dưới đây về các vùng bị xâm nhập mặn và sẽ bị ngập nước mặn:
Diện tích đất bị xâm thực mặn và chịu ảnh hưởng ngập khi nước biển dâng
Với gần 30 nghìn km2 chịu ảnh hưởng, sẽ làm thay đổi rất nhiều tình hình chung tại đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên phần diện tích đất lúa còn lại vẫn rất lớn và đủ đảm bảo an ninh lương thực trong mọi tình huống. Diện tích làm nông nghiệp lúa ít đi đồng nghĩa với lượng nước ngọt cần trong thủy lợi sẽ giảm đi đáng kể. Việt Nam có thể chủ động xây dựng các đập chứa để tự chủ nguồn tưới cho phần còn lại này trong mùa hạn, hoàn toàn bằng nguồn lực của mình. Đất lúa ít đi khiến nó quý hơn, người dân do đó cũng sẽ căn cơ để trồng loại nào mang lại giá trị cao hơn. Điều đó tốt cho họ và cũng tốt cho chuỗi giá trị và thương hiệu nông nghiệp Việt nam. Về vấn đề vùng nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, nếu lo ngại của bạn rằng một số loại tôm sẽ chết ở độ mặn cao, vậy thì hãy để các nhà chuyên môn nghiên cứu xem loại con giống nào nuôi thích hợp nhất ở vùng đó, ví dụ tôm biển, cua, các loại cá nước mặn có giá trị xuất khẩu ... Ngoài ra vẫn có thể trồng một số loại lúa chịu mặn xen kẽ với các chu kỳ nuôi hải sản trong năm, điều đó mang lại tính cân đối về mọi phương diện. Nói chung việc thích ứng với tình hình một cách chủ động là không thể trì hoãn. Còn việc đấu tranh với TQ qua các diễn đàn quốc tế, cứ làm thôi nhưng chắc rằng hiệu quả sẽ chẳng hơn gì những lời phản đối suông trên biển đông là mấy smile emoticon

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Nguy cơ chiến tranh Việt Trung và chiến lược phòng vệ của Việt Nam (P3)

Nội dung chính của bài viết này sẽ tập trung vào mối nguy của một cuộc chiến tranh cục bộ tại biển Đông, phạm vi chiến trường giới hạn trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Chiến sự cũng sẽ lan rộng đến một loạt các căn cứ không quân và hải quân nằm dọc bờ biển Việt Nam, từ Quảng Ninh kéo dài xuống khu vực duyên hải miền Trung. Đây là cuộc chiến có xác suất lớn nhất và cũng sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng lâu dài nhất đối với bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Nam Á, trong đó chịu tác động nặng nhất chính là Việt Nam.
Để nắm được mạch phân tích trong bài viết này, đề nghị các bạn cần đọc kỹ lại các phần phân tích trước trong cùng loạt bài:
Phần 1: Đánh giá mối nguy cơ chiến tranh Việt Trung từ các phân tích lịch sử và văn hóa; các phân tích tổng hợp về tiềm lực quân sự Trung Hoa: https://www.facebook.com/notes/lang-anh/nguy-c%C6%A1-chi%E1%BA%BFn-tranh-vi%E1%BB%87t-trung-v%C3%A0-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-ph%C3%B2ng-v%E1%BB%87-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam-p1/10203459149039443
Phần 2: Phân tích về cuộc chiến tổng lực Việt Trung, giải pháp cho một cuộc chiến tranh hạt nhân. Đây là một bài phân tích có tính loại trừ, tuy nhiên, để đề phòng cho một cơn mưa, người ta vẫn luôn cần mang theo một chiếc áo mưa gấp gọn. Hiểm họa sẽ luôn xảy ra ngay khi bạn không có chuẩn bị gì cho nguy cơ ấy: https://www.facebook.com/notes/lang-anh/nguy-c%C6%A1-chi%E1%BA%BFn-tranh-vi%E1%BB%87t-trung-v%C3%A0-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-ph%C3%B2ng-v%E1%BB%87-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam-p2/10203480902583268
3. Đây là một bài phân tích không nằm trong loạt bài này, nhưng có mối quan hệ tương quan khá chặt chẽ. Hẳn hiện nay có nhiều người vẫn còn ám ảnh về cuộc chiến khốc liệt ba bên Việt - Trung - Campuchia cuối những năm 1970 và kéo dài đến tận năm 1988. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở Campuchia hiện nay đã rất khác. Ngày nay, với một chế độ bầu cử tự do, dù vẫn đang nằm dưới sự ngự trị của Hunsen nhưng người Campuchia rất thực dụng và dân trí đang tiến nhanh. Campuchia đang tận dụng rất tốt mâu thuẫn giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam để mặc cả quyền lợi cho mình. Điều đó khiến Campuchia trở nên đáng ghét nhưng cũng chính vì thế mà mối nguy xung đột giữa Campuchia và Việt Nam gần như có thể loại trừ: Khi một dân tộc bắt đầu được nếm mùi tự do và trở nên thực dụng hơn, họ cũng đồng thời biết đâu là giới hạn và khôn ngoan hơn và khó có điều gì khiến họ đủ ngu dốt để bán máu cho dân tộc khác, đất nước khác: https://www.facebook.com/notes/lang-anh/cambodia-l%C3%A1-b%C3%A0i-c%C5%A9-v%C3%A0-c%C3%A2u-chuy%E1%BB%87n-m%E1%BB%9Bi-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-trung-qu%E1%BB%91c/10203354821471319
Quay trở lại câu chuyện chính:
THANH GƯƠM DAMOCLES TREO TRÊN BIỂN ĐÔNG
Hầu hết các hãng thông tấn toàn cầu và nhiều nhà phân tích chính trị đều bày tỏ mối lo ngại lớn về nguy cơ xung đột trên biển đông trong những tháng cuối năm 2015 và đặc biệt là đầu năm 2016. Nỗi lo ngại của họ hoàn toàn có lý khi xét đến mật độ tập hợp các phương tiện chiến tranh của các nước có liên quan trong vùng biển hẹp này đang tăng nhanh và dày đặc tới mức rất đáng sợ. Số tàu ngầm, chiến hạm, máy bay và các phương tiện vũ khí khác được triển khai dày đặc tại các căn cứ bao quanh biển Đông bởi Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Singapore, Mã lai, Indonesia và Philipin. Và dù ở xa hơn, cả người Nhật, người Ấn và người Úc cũng đều gửi các hạm tàu và máy bay tuần tiễu của mình đến vùng biển này. Nếu chiến tranh là một hệ quả tất yếu của các tranh chấp lãnh thổ bế tắc và sự sẵn sàng của các phương tiện chiến tranh, thì có thể nói các điều kiện cần thiết cho xung đột ở Biển Đông đều đã sẵn sàng.
Có những lý do khiến nhiều người tin chiến tranh chưa thể nổ ra, do tính kết nối quá lớn của các quốc gia khu vực với giao thương quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên nhìn vào lịch sử, mối quan hệ kinh tế tăng mạnh đã chẳng ngăn được cuộc chiến Đức - Anh, và màn trình diễn đơn phương của Putin ở Crimea tiếc thay lại là một ví dụ tham khảo tốt cho Trung Quốc về điều một nước lớn có thể làm trong một cuộc xâm lược có kiểm soát đối với láng giềng. Tất nhiên sức mạnh răn đe của TQ chưa thể bằng Nga, và trong khu vực cũng không có ai giống như Ucraine, khi Việt Nam vốn luôn là một đối thủ đáng gờm, còn Philipin vẫn có hiệp ước an ninh với Mỹ.
Tuy nhiên, nhìn từ nhiều yếu tố, cả về lịch sử lẫn các áp lực hiện tại, có quá nhiều cơ sở để thấy lưỡi gươm Damocles đang treo lơ lửng trên đầu các quốc gia ven biển Đông, mà trực tiếp nhất chính là Việt Nam, cụ thể:
1. Cuộc chiến quyền lực của Tập Cận Bình ở TQ đã chấm dứt. Tập hiện là một tay độc tài có quyền lực tuyệt đối thậm chí vượt xa Đặng Tiểu Bình và bám sát nếu không muốn nói là ngang bằng Mao Trạch Đông. Đây là một tín hiệu không lành với chính Trung Quốc và các nước láng giềng. Đặc tính chung của những quyền lực độc tài là xu hướng dùng bạo lực thay vì thỏa hiệp với các tranh chấp.
2. Kinh tế TQ đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Số lượng người mất việc đang tăng rất nhanh, tạo ra những vấn đề lớn về an sinh. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn nội tại vốn có trong xã hội TQ vẫn còn nguyên và chỉ chờ một tác nhân dẫn lửa là bùng phát. Tăng trưởng yếu đi khiến các mũi dùi chĩa vào quyền cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản TQ mỗi lúc một tăng. Xuất khẩu khủng hoảng ra bên ngoài bằng một cuộc chiến có kiểm soát là một lối thoát cho Tập Cận Bình và ĐCS Trung Quốc. Đây cũng là giải pháp được nhiều triều đại Trung Hoa quen dùng, gồm cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình, và đối tượng được nếm giải pháp này nhiều lần nhất trong lịch sử, không phải ai khác chính là Việt Nam.
3. Trong nhiều thập niên, Trung Quốc đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền và chuẩn bị tâm lý rất kỹ càng cho đại bộ phận dân chúng Trung Quốc về đường lưỡi bò và chủ quyền của Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông. Thế mạnh quân sự vượt trội khiến trên 80% số thanh niên TQ hiện đều rất hung hăng và cho rằng việc dùng sức mạnh để chiếm trọn biển Đông là hoàn toàn hợp lý. Có thể nói, Trung Quốc đã chuẩn bị rất kỹ cho cuộc chiến về mặt tuyên truyền và con người cho cuộc chiến tranh tương lai ở Biển Đông.
4. Các khoản đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm vào quân sự khiến TQ có sức mạnh bằng hầu như tất cả các nước châu Á cộng lại. Số lượng máy bay tại các đại quân khu, số khu trục hạm, tuần dương hạm và tàu tên lửa biên chế tại ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Quốc hiện vượt xa quy mô không quân và hải quân của cả Ấn Độ và Nhật Bản cộng lại. Dù các tàu chiến và máy bay TQ có thể thua kém Nhật Bản đôi chút về công nghệ tinh vi, nhưng khoảng cách đang ngày một thu hẹp, và điều quan trọng là số lượng thì TQ vượt xa mọi đối thủ. Nếu chiến tranh là sự so đọ khả năng chấp nhận tổn thất và tiêu hao, thì về mặt này châu Á không ai so được với TQ. Riêng hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân đóng tại căn cứ Tam Á, Du Lâm có sức mạnh vượt xa hải quân và không quân của tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng trang bị và đơn vị khí tài.
5. Dù bảy đảo nhân tạo tại Trường Sa vẫn chưa hoàn tất, nhưng sự sẵn sàng phục vụ chiến tranh của các căn cứ tại đảo Phú Lâm - Hoàng Sa và các căn cứ tại Du Lâm - Hải Nam khiến Trung Quốc có thể tung một đòn đánh phủ đầu ồ ạt bằng không quân tới các căn cứ ven biển của các nước ven biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Mức đe dọa sẽ ngày một nặng nề khi các phi đạo tại Trường Sa hoàn tất. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc có khả năng uy hiếp nặng nề mọi quốc gia Đông Nam Á, và phần nào loại trừ được nguy cơ bị kiểm soát yết hầu Mallaca từ Mỹ và đồng minh.
6. Giữa năm 2016, vụ kiện của Philipin với Trung Quốc tại Tòa án Trọng tài Thường trực Liên hợp quốc (PCA) sẽ có kết quả rõ ràng. Với sự từ chối tham dự của Trung Quốc và các chứng lý Philipin đã nêu, có tới 99% khả năng TQ sẽ phải nhận một phán quyết bất lợi cho tham vọng độc chiếm biển Đông của họ. Điều này có thể thôi thúc TQ hành động mạo hiểm để tạo sự đã rồi trước một phán quyết bất lợi cho mình.
7. Tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên có thể cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội tuyệt hảo để lợi dụng cho các hành vi xâm lăng có kiểm soát. Nước Nga và châu Âu đang bận rộn với câu chuyện Syria và dòng người di dân. Mỹ cũng buộc phải phân tán nguồn lực của mình để đối phó với các căng thẳng ngày một tăng ở châu Âu và Trung Đông. Bên cạnh đó, lần đầu tiên kể từ năm 1952, Trung Quốc đã bắt tay với Mỹ và đưa ra một lệnh trừng phạt rất nặng nề đối với Triều Tiên. Có thể cho rằng đó là sự trừng phạt của Trung Quốc đối với thái độ nhờn mặt của Kim Jung Un kể từ khi lên nắm quyền tại Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có thể lý giải Trung Quốc đang chơi một ván cờ với nhiều mục tiêu. Bằng việc dồn Kim Jung Un đến thế đường cùng, bán đảo Triều Tiên đang nóng hơn bao giờ hết, rất có thể Triều Tiên sẽ phản ứng cực kỳ hung hăng đối với các biện pháp kiểm soát tàu bè ra vào Triều Tiên theo nghị quyết trừng phạt mới. Điều này có thể khiến nổ ra các vụ chạm súng trực tiếp giữa Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc và Nhật Bản, những quốc gia thù địch sát sườn. Tình huống này nổ ra sẽ đặt Mỹ và đồng minh Đông Bắc Á trước áp lực cực kỳ căng thẳng vì Triều Tiên sở hữu vũ khí tấn công hạt nhân. Ngoài ra, năm 2016 nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử, mọi sự chú ý đều đang dồn vào cuộc đấu giữa các ứng viên và hai đảng Dân chủ - Cộng hòa, Mỹ sao nhãng rất nhiều các vấn đề quốc tế. Trung Quốc chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết mọi vấn đề đã nêu từ mục (1) đến mục (6) như đã phân tích ở trên.
Điểm lại lịch sử, tham vọng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc là vô cùng lớn và nó luôn được mọi triều đại cai trị Trung Quốc nung nấu và kế thừa, dù đó là thời phong kiến hay đến thời cận đại của Tưởng Giới Thạch. Và dù là một đối thủ một mất một còn nhưng Mao Trạch Đông chẳng thấy phiền hà gì khi tiếp thu và phát triển thêm tham vọng bành trướng biển Đông của Tưởng. Đến thời Đặng Tiểu Bình, nó được hiện thực hóa bằng cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến biên giới khốc liệt với Việt Nam kéo dài từ 1979 đến 1988, và đặc biệt là cuộc xâm lăng chiếm 6 đảo đá tại Trường Sa năm 1988. Trong tất cả các cuộc chiến xâm lược ấy, rất đáng tiếc, nạn nhân luôn là Việt Nam và phần thất trận cũng luôn thuộc về Việt Nam. Ngày nay, Tập Cận Bình đang kế thừa tiếp dã tâm ấy, và Tập đã rất sẵn sàng. Cái còn thiếu chỉ là thời cơ.
Có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc tận dụng thời cơ. Tây Tạng từng giành được độc lập năm 1913, và họ duy trì được nền độc lập của mình đến năm 1951. Lợi dụng việc toàn thế giới bị hút vào cuộc chiến Triều Tiên 1950 - 1953, dù đã gửi hàng triệu lính đến Triều Tiên, Mao Trạch Đông vẫn âm thầm gửi một đội quân đến Tây Tạng mà không ai kịp nhận ra. Khi nước Mỹ thoát khỏi được cuộc chiến Triều Tiên thì Tây Tạng đã là một câu chuyện đã rồi với Trung Quốc. Năm 1959, sau một cuộc kháng cự bất thành, nền độc lập của Tây Tạng chính thức bị xóa sổ. Quốc gia này đã biến mất trên bản đồ thế giới. Người Tây Tạng đang bị gạt ra bên lề và biến thành thiểu số trên chính quê hương sau các kế hoạch Hán hóa của Bắc Kinh. Ngày nay, họ chỉ còn dám mơ về một quyền tự trị ít ỏi về văn hóa mà cũng chẳng thể đạt tới.
Năm 1974, khi cuộc chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đang bước vào chặng xế chiều. Mỹ ký hiệp định Paris và rút khỏi cuộc chơi, miền Nam kiệt quệ vì viện trợ cắt giảm còn miền Bắc đang há miệng mắc quai vì công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 theo đó thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc (Đây là một vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, năm 1958 đang là lãnh tụ tối cao và đầy quyền lực, ông Hồ không ký, nhưng tất nhiên ông Phạm Văn Đồng chỉ có thể ký công hàm dưới sự cho phép của ông Hồ); Mao Trạch Đông chớp lấy thời cơ ấy đã gửi hạm đội đến Hoàng Sa (Từ 1954 - 1972 khi Mỹ còn sát cánh với VNCH, quyền kiểm soát Hoàng Sa luôn nằm trong tay người Việt và Mao chưa bao giờ dám gửi hạm đội tới đó). Sau nỗ lực kháng cự ngắn ngủi bất thành của Việt Nam Cộng Hòa, lúc đó đã rất suy yếu và đang trên đà bại trận trước Bắc Việt, người Việt mất trọn vẹn Hoàng Sa và chưa nhìn thấy tương lai lúc nào đòi lại được.
Năm 1988 đồng minh duy nhất của Việt Nam là Liên Xô đang sụp đổ, kinh tế Việt Nam khủng hoảng và kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và cai trị dốt nát của ĐCS, Đặng Tiểu Bình chớp thời cơ gửi hạm đội tới Trường Sa. Hải quân Việt Nam nhận lệnh không nổ súng, dù vô cùng dũng cảm, họ mất một số tàu và 64 thủy binh. Việt Nam cũng đồng thời mất 6 đảo đá chiến lược tại Trường Sa.
Năm 1995, lợi dụng liên minh Mỹ - Philipin suy yếu sau khi người Philipin yêu cầu Mỹ rời căn cứ hải quân Subic từ năm 1992, Trung Quốc gửi bảy tàu đến chiếm đá vành khăn đang nằm dưới sự kiểm soát của Philipin. Quốc gia này bất lực và thấm đòn đau cho sự sai lầm chiến lược của mình.
Năm 2012, Trung Quốc lần đầu tiên thí điểm chiến lược bắp cải để chiếm đoạt bãi đá scaborough do Philipin kiểm soát. Bằng việc sử dụng tàu cá, tàu công vụ chiếm lĩnh vòng trong và tàu quân sự đe dọa vòng ngoài, cuối cùng Trung Quốc kiểm soát được bãi đá này. Bất lực trên thực địa, người Philipin sau đó chọn một hướng đi mà họ ít nhiều đạt được thành công khi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế.
Tháng 5/2014 Trung Quốc điều giàn khoan Haiyang 981 và hơn 100 tàu chiến vào lãnh hải Việt Nam. Các nguồn lực và sự chú ý của Việt Nam bị hút cạn vào cuộc chiến vòi rồng và đâm húc không cân sức với Trung Quốc (Chính xác thì chỉ có TQ dùng vòi rồng và đâm húc tàu Việt nam, phía Việt Nam chỉ duy trì sự hiện diện và dùng loa phản đối). Trong lúc đó Trung Quốc ồ ạt xây 7 đảo nhân tạo tại các bãi đá đã chiếm từ Việt Nam và Philipin ở Trường Sa, tiến một bước rất dài trong lộ trình xâm lược biển Đông.
Điểm lại tất cả các sự kiện trên, có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc chớp thời cơ cho các hành vi xâm lấn của mình.
Năm 2016 và các năm kế tiếp, có rất nhiều thời cơ Trung Quốc có thể tận dụng để phục vụ cho dã tâm xâm lược xuyên suốt của họ. Cũng trong vài năm tới đây, nhu cầu xuất khẩu khủng hoảng bằng một cuộc chiến tranh sẽ ngày càng lớn với TQ. Một cuộc chiến có kiểm soát và giành thắng lợi ở Biển Đông, có thể khiến Tập Cận Bình ngồi vững trên ngai vàng thêm ít nhất 10 năm bất chấp các biến động xã hội lớn trong nước do kinh tế suy thoái, và nếu thắng, đương nhiên TQ sẽ bước càng xa trên lộ trình độc chiếm Biển Đông mà họ chưa bao giờ xao nhãng. Có quá nhiều lý do cho chiến tranh và có quá ít lý do để ngăn chặn nó. Đó là thực trạng hiện tại.
NẾU CÓ XUNG ĐỘT, TRUNG QUỐC SẼ ĐÁNH AI?
Không khó để trả lời, Việt Nam là đối tượng thích hợp nhất. Philipin và Việt Nam đang là những quốc gia đối đầu với TQ mạnh nhất ở Biển Đông, có mâu thuẫn lớn nhất. Tiềm năng quân sự của Philipin không đáng kể, nhưng vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Philipin với Trung Quốc tại Trường Sa nằm rất gần Philipin. Nếu Philipin bị buộc ép vào xung đột, quốc gia này có thể gây những tổn hại dai dẳng cho TQ bằng các hoạt động tấn công du kích, dù là vào thương thuyền Trung Quốc hay các tàu quân sự của TQ tại Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hầu như không thể tấn công vào các căn cứ trên lãnh thổ đất liền và nội hải của Philipin vì đất nước này được bảo vệ bởi hiệp ước an ninh Mỹ - Phi, và điều đó sẽ kéo trực tiếp Mỹ vào xung đột.
So với Philipin, Việt Nam sẵn sàng cho chiến tranh hơn rất nhiều. Trong nhiều năm qua không quân và hải quân Việt Nam được đầu tư lớn. Hiện nay không quân Việt Nam đã vượt lên đứng đầu Đông Nam Á về số lượng tiêm kích hạng nặng hiện đại. Năng lực tấn công của Hải quân cũng đã có một bước tiến rất dài với việc biên chế 5 tàu ngầm tấn công Kilo và 10 tàu tên lửa thế hệ mới. Ngoài ra, Việt Nam còn có một kho vũ khí lục quân rất hùng hậu, dù tính năng tác chiến có thể thua kém các thế hệ vũ khí gần đây nhưng chúng vẫn có uy lực sát thương ghê gớm và hoàn toàn có thể phát huy hiệu quả khi sử dụng đúng cách. Sự thất trận năm 1974 và 1988, đặc biệt là tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang khiến Việt Nam luôn cảnh giác trên biển. Tuy nhiên, so sánh với Trung Quốc, về mọi tiêu chí lực lượng quân sự song phương đều chênh lệch quá xa. Ngoài ra, Viêt Nam hoàn toàn không có một hiệp ước an ninh với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Bên cạnh đó, do có biên giới đất liền kề sát, Trung Quốc dễ dàng tập kết quân đe dọa trong trường hợp căng thẳng để răn đe khiến Việt Nam phải tự hạn chế các phản ứng quân sự trả đũa trên biển của mình. Và đặc biệt là, việc người Trung Quốc hiện diện với số lượng cực lớn khắp từ Nam chí Bắc khiến Trung Quốc có lợi thế vượt trội trong việc thu thập các thông tin tình báo về vị trí và hiện trạng của hầu như toàn bộ các căn cứ không quân và hải quân chính của Việt Nam. Điều đó khiến thiệt hại của đòn phủ đầu nếu TQ muốn đánh vào các lực lượng không quân lẫn hải quân của Việt Nam có thể vô cùng lớn.
Do đó, có thể nói Việt Nam là mục tiêu thích hợp nhất của Trung Quốc.
PHƯƠNG ÁN TẤN CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Khi một cường quốc muốn tìm cớ cho một cuộc chiến tranh, không khó để họ làm điều đó. Cuộc xung đột có thể bắt đầu bằng hành vi bắt bớ gia tăng của tàu chấp pháp Trung Quốc đối với các tàu dân sự, thậm chí cả tàu chấp pháp Việt Nam. Trung Quốc có thể ép Việt Nam vào thế đường cùng bằng cách mở rộng quyền kiểm soát thực tế tới sát mép ngoài của đường lưỡi bò, vốn ăn rất sâu vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của lãnh hãi Việt Nam. Nó thậm chí có thể mang giàn khoan đến cắm sát mép này, hoặc nổ súng trong các cuộc rượt đuổi các tàu chấp pháp hoặc tàu quân sự Việt Nam. Ở thế chủ động gây hấn, Trung Quốc sẽ chuẩn bị rất kỹ các phương tiện nghe nhìn. Ngay khi một tàu Việt Nam bị ép vào thế đường cùng buộc phải nổ súng, Trung Quốc có thể quay lại, họp báo công khai và biến đó thành cái cớ cho cuộc chiến.
Phi đạo tại Trường Sa giờ đã sẵn sàng cho máy bay Trung Quốc cất cánh. Trong những giờ đầu cuộc chiến, Trung Quốc có thể đồn trú trên dưới 50 tiêm kích bom và oanh tạc cơ tại các phi đạo này. Một lực lượng không quân tương tự cũng được đồn trú tại Phú Lâm và các đường băng tại Hoàng Sa. Các lực lượng này, phối hợp với 200 - 300 máy bay tiêm kích và oanh tạc cơ tại Hải Nam sẽ là lực lượng đột kích đánh đòn phủ đầu chủ yếu của Trung Quốc.
Máy bay xuất phát từ Trường Sa sẽ chỉ đánh đòn phủ đầu ồ ạt một chiều, vào các căn cứ không quân và hải quân đồn trú tại Biên Hòa, Nha Trang và khu vực phía Nam. Ngay sau khi kết thúc các đòn đánh phủ đầu, số máy bay này sẽ không hạ cánh tại các phi đạo Trường Sa mà rút về Hoàng Sa và sau đó là Hải Nam để tránh các đòn tấn công trả đũa. Riêng các căn cứ không quân và hải quân khu vực Đà Nẵng và duyên hải miền Trung sẽ được chăm sóc rất kỹ với các đòn đột kích xuất phát từ Hoàng Sa. Cam Ranh sẽ là nơi bị chăm sóc triệt để nhất để đánh tê liệt và vô hiệu hóa căn cứ hải quân trọng yếu và là cảng nhà của hạm đội tàu ngầm Việt Nam. Mất Cam Ranh, sau 1 tháng chiến tranh lực lượng tàu ngầm Việt Nam sẽ bị vô hiệu hóa do không còn được đảm bảo hậu cần.
Lực lượng oanh tạc cơ xuất phát từ Hải Nam, với số lượng từ 200 - 300 máy bay, sẽ tấn công ồ ạt vào các căn cứ hải quân và không quân nằm ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Các đòn tấn công này nếu đạt được mục đích ban đầu sẽ gây thiệt hại cực lớn cho các lực lượng không quân, hải quân và đặc biệt là có khả năng hủy diệt các căn cứ ven biển của Việt Nam. Mức tàn phá của các đòn đánh này được đảm bảo thêm vì sự hiện diện cực kỳ đông đảo của người Trung Quốc ở Việt Nam, khiến họ có lợi thế định vị bằng mắt người trên thực địa thay vì vệ tinh quan sát.
Trong những giờ đầu tham chiến, các chiến hạm lớn của Trung Quốc sẽ được giữ yên trong căn cứ, trong lúc tàu ngầm sẽ được huy động để phong tỏa các cảng biển và đối phó lực lượng tàu ngầm của Việt Nam. Nếu Việt Nam bị động trước các đòn tấn công phủ đầu, nhiều khả năng các tàu ngầm sẽ bị tiêu diệt ngay tại cảng hoặc bị tiêu diệt ngay khi rời căn cứ bởi tầu ngầm Trung Quốc. Các khu trục hạm và tàu tên lửa cỡ nhỏ Trung Quốc sẽ được sử dụng để loại khỏi vòng chiến đấu các đảo nhỏ và Việt Nam đang đồn trú ở Trường Sa.
Do đây là cuộc chiến cục bộ, Trung Quốc sẽ giới hạn sự tham gia của lực lượng tên lửa chiến lược. Trung Quốc có thể tấn công các căn cứ không quân sâu trong nội địa Việt Nam bằng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, số lượng nằm trong phạm vi kiểm soát để gây thiệt hại trong những giờ đầu và tránh chiến tranh lan quá rộng.
Để gây sức ép khiến Việt Nam kiềm chế, trên bộ Trung Quốc sẽ huy động 20 - 25 sư đoàn áp sát biên giới. Có thể sẽ có các đòn tấn công khiêu khích tại đường biên hoặc các vụ bắn pháo qua biên giới để gây đe dọa. Tuy nhiên, chỉ trừ trong tình huống muốn chiến tranh tổng lực, lục quân Trung Quốc sẽ không ồ ạt tấn công.
Trong trường hợp các mục tiêu quân sự của TQ đạt được, Việt Nam có thể bị tổn thất từ 30 - 50% lực lượng không quân, 50 - 70% lực lượng hải quân và mất tất cả các căn cứ hải quân ven biển. Điều này sẽ khiến năng lực trả đũa của Việt Nam hoàn toàn bị bẻ gẫy.
Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, Trung Quốc sẽ chiếm toàn bộ các đảo Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa. Nó sẽ củng cố các căn cứ, duy trì lực lượng không quân và hải quân phù hợp tại Hoàng Sa, Trường Sa, kết hợp với lực lượng không quân chủ lực tại Hải Nam để thường xuyên phong tỏa mọi hoạt động hàng hải và hàng không của Việt Nam từ vịnh Bắc Bộ kéo dài tới TP Hồ Chí Minh. Mục tiêu của giai đoạn này là săn lùng và tiêu diệt những gì còn lại của hải quân Việt Nam, bẽ gãy các đòn đột đích của lực lượng không quân còn lại và đặc biệt là hủy diệt giao lưu kinh tế hàng hải Bắc - Nam của Việt Nam. Mục đích chính của giai đoạn này, là khiến Việt Nam kiệt quệ, lâm vào khủng hoảng và buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện do Trung Quốc áp đặt. Nếu thành công, Trung Quốc sẽ loại Việt Nam ra khỏi Trường Sa và hiện thực hóa được đường lưỡi bò trên thực tế.
VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM GÌ?
Để chống lại các đòn tấn công phủ đầu của Trung Quốc, Việt Nam chỉ có thể dựa vào hai giải pháp chính. Thứ nhất là lực lượng phòng không mặt đất, gồm các trận địa tên lửa phòng không và pháo mặt đất. Giải pháp thứ hai, chính là phân tán và ẩn núp. Việt Nam hiện có trên dưới 40 máy bay tiêm kích đa năng thế hệ 4 và 4+ Su27/Su30 khá hiện đại, có thể gây thiệt hại cho hải quân và không quân Trung Quốc. Tuy nhiên số lượng này rất ít ỏi nếu so sánh với không quân Trung Quốc. Chìa khóa thắng bại chiến tranh của Việt Nam nằm ở việc có bảo tồn được số khí tài này cho cuộc chiến du kích lâu dài hay không. Vì vậy, mấu chốt của vấn đề là Việt Nam phải bảo tồn số phương tiện chiến tranh này, và tránh đưa chúng nghênh chiến trong giai đoạn đầu của chiến tranh, mà giành chúng cho cuộc chiến du kích trường kỳ sau này.
Giai đoạn đầu cuộc chiến, do đó Việt Nam chỉ có thể dựa vào lực lượng phòng không mặt đất, đưa một số lượng ít tiêm kích đời cũ Mig21 và Su22, lợi dụng lợi thế địa hình và các đài dẫn đường mặt đất để đánh tập kích quấy rối các lực lượng không quân tấn công Trung Quốc, còn lại toàn bộ các lực lượng không quân và hải quân hiện đại đều phải phân tán ẩn núp để bảo tồn sinh lực. Nếu Việt Nam giữ được 70 - 80% lực lượng không quân và hải quân của mình sau các đòn tấn công phủ đầu, có thể nói, đó sẽ là yếu tố chiến lược quyết định kết quả cuộc chiến. Việt Nam hiện có hai tiểu đoàn tên lửa S300 PMU tối tân nhưng cơ số đạn chỉ vài chục quả. Số tên lửa này chỉ có thể dùng để bảo vệ Bộ tổng tư lệnh trong tình huống chiến tranh chứ không thể đem ra ứng chiến.
Để bảo tồn sinh lực, Việt Nam cần làm tốt công tác thu thập tình báo, theo dõi mọi hoạt động chuyển quân và tập kết khí tài của Trung Quốc, khi có dấu hiện chiến tranh, cần phân tán và sơ tán khí tài, đặc biệt là các máy bay thế hệ mới và các tàu chiến chủ lực, cần sơ tán xa vào các căn cứ khu vực phía Nam. Ngoài ra, phải vận dụng lực lượng an ninh tự vệ để loại bỏ lực lượng thám báo và tình báo mặt đất của Trung Quốc. Đây không phải là chuyện dễ dàng, và Việt Nam phải chuẩn bị cho nó ngay từ bây giờ. Nếu cứ tiếp tục để người Trung Quốc tràn ngập mất kiểm soát, từ lao động cho đến định cư chui hoặc mua bán tự do như hiện nay, mọi việc sẽ là quá muộn.
Lực lượng tàu ngầm là lực lượng chiến lược, có uy lực răn đe rất mạnh nhưng cũng rất dễ tổn thương và vô hiệu hóa khi bị loại mất cảng nhà. Việt Nam cần xây dựng các căn cứ tiếp vận lâm thời cho tàu ngầm ở khu vực phía Nam, thậm chí xa về mạn Phú Quốc, cần tận dụng các vịnh kín ven bờ được che chở bởi các đảo để làm các chỗ trú ẩn kín cho tàu ngầm và chiến hạm, đồng thời đảm bảo được năng lực tiếp vận hậu cần cho chúng trong giai đoạn sau của chiến tranh khi tất cả các căn cứ hải quân cố định chính đã bị tiêu diệt.
Do lực lượng phòng không mặt đất của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào các dàn tên lửa S125 (Sam3) nâng cấp và các trận địa cao xạ. Số khí tài này có từ thời chiến tranh Việt Nam và đã lạc hậu rất nhiều về mặt kỹ thuật, đặc biệt khi đối phương sở hữu số lượng lớn các chiến đấu cơ thế hệ 4, do đó có thể nói các căn cứ mặt đất và hải quân ven biển chắc chắn sẽ bị Trung Quốc hủy diệt. Tuy nhiên, với kinh nghiệm tổ chức tốt các trận địa phối hợp và các trạm rada cảnh giới dày đặc, Việt Nam vẫn có thể bắn hạ từ 20 - 50 máy bay Trung Quốc trong giai đoạn tấn công phủ đầu. Đổi lấy chiến quả này là một số lớn các trận địa tên lửa bị tiêu diệt và sự hủy diệt của các mục tiêu cố định. Việt Nam cần tính toán để đảm bảo các lực lượng phòng không mặt đất còn duy trì được ít nhất 60% lực lượng cho cuộc chiến lâu dài sau này.
Các đảo tại Trường Sa sẽ bị cô lập ngay từ những giờ đầu. Việc giữ hay chi viện cho các đảo này là bất khả thi và sự tồn tại của chúng đành tùy thuộc vào lực lượng đồn trú tại các đảo. Tất nhiên, hy vọng giữ được chúng là rất mong manh.
Trên biên giới phía Bắc, ngay khi Trung Quốc tập kết quân, Việt Nam cần thiết lập vành đai phòng thủ với trên dưới 15 sư đoàn, đồng thời tổng động viên để có từ 2 - 5 triệu người sẵn sàng bổ sung cho lực lượng phòng thủ. Nhiệm vụ của lục quân Việt Nam là phòng thủ chặt và sẵn sàng cho mọi tình huống leo thang.
Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, với số khí tài còn bảo tồn được, chiến lược chủ yếu của Việt Nam là đánh quấy rối và du kích với các lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đồn trú tại Hoàng Sa, Trường Sa và mọi tàu thuyền mang cờ hiệu Trung Quốc di chuyển ra ngoài Mallaca. Mục tiêu chính của Việt Nam trong giai đoạn này, là phải loại được khỏi vòng chiến đấu các phi đạo tại Trường Sa và Phú Lâm - Hoàng Sa. Việc này hoàn toàn có thể làm được nếu Việt Nam tổ chức các đòn đột kích chớp nhoáng bằng không quân bay đêm với độ cao thấp từ các căn cứ không quân dã chiến nằm dọc lãnh thổ từ Thanh Hóa kéo dọc duyên hải miền Trung cho đến phía Nam. Các tàu tên lửa cỡ nhỏ của hải quân cũng có thể được vận dụng phối hợp cho các đòn tấn công từ các căn cứ ẩn núp ở các vịnh biển ven bờ. Việt Nam cũng có thể sử dụng tàu ngầm cỡ nhỏ để chở các đội đặc công cảm tử tiếp cận và tấn công phá hoại các phi đạo và căn cứ Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong đêm. Do các căn cứ này đều có tọa độ cố định, nằm rất gần lãnh thổ Việt Nam (từ 10 - 30 phút bay tính từ bờ biển Việt Nam), nên nếu tổ chức tốt, Việt Nam có thể loại chúng khỏi vòng chiến. Việt Nam có thể tái tổ chức các đòn đột kích bất ngờ dạng này, để ngăn ngừa Trung Quốc khôi phục chúng trong suốt giai đoạn sau của cuộc chiến. Việt Nam có một số tên lửa scud B,C mua từ Bắc Hàn, tuy nhiên đã có tuổi đời trên dưới 25 năm và độ sai số tính bằng km (tương tự tên lửa scud Saddam dùng trong chiến tranh vùng vịnh 1991) do đó khó có thể dùng cho cuộc chiến diệt các phi đạo. Số tên lửa đối đất hiện đại Klub gắn kèm các tàu ngầm Kilo có thể là giải pháp hiệu quả để đối phó các mục tiêu này. Tuy nhiên đầu nổ của các tên lửa này cũng chỉ tương đương bom, hơn nữa số lượng rất ít chỉ vài chục quả, chỉ có thể dùng để răn đe, đe dọa diệt các đầu não hoặc các mục tiêu giá trị cao của TQ tại căn cứ Du Lâm - Hải Nam nhằm tránh TQ leo thang chiến tranh, chứ không thể phung phí cho cuộc chiến lâu dài tại các đảo. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ giành lại quyền kiểm soát không phận từ khu vực Đà Nẵng trở vào và Trung Quốc chỉ có thể tham chiến bằng lực lượng không quân và hải quân xuất phát từ căn cứ Du Lâm, Tam Á tại Hải Nam.
Lực lượng tàu ngầm chiến lược của Việt Nam có thể được sử dụng để răn đe chiến lược với các tàu có giá trị cao của Trung Quốc tại Tam Á và các vùng biển phụ cận Hoàng Sa, nhằm gây rối loạn cho các kế hoạch chuyển quân hoặc tiếp vận bằng đường hàng hải. Trong tình huống này, Việt Nam sẽ có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo tại Trường Sa, khi cô lập chúng khỏi lực lượng tiếp vận phải trải dài trên 1000 km tính từ Hải Nam, trong bối cảnh chi viện không quân của TQ sẽ rất hạn chế khi các phi đạo tại Hoàng Sa bị loại bỏ.
Cuộc chiến chuyển sang một cuộc chiến tiêu hao. Các căn cứ của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa sẽ vẫn bị tấn công gây thiệt hại thường xuyên bởi không quân Trung Quốc. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có thể tung ra các đòn đột kích chớp nhoáng bằng tiêm kích bom su22 và các tàu hải quân cỡ nhỏ để ngăn chặn và làm rối loạn khả năng thâm nhập của hạm đội Trung Quốc. Ngược lại, từ Đà Nẵng trở vào Nam, sau khi giành lại quyền kiểm soát bầu trời, Việt Nam có lợi thế lớn để thực hiện cuộc chiến tiêu hao với Trung Quốc. Các lực lượng hải quân từ các căn cứ phía Nam có thể phong tỏa vùng biển, giải thủy lôi trên những tuyến hàng hải chính dẫn tới Trung Quốc từ Mallaca, trong lúc lực lượng không quân có thể sử dụng để đánh chìm các tàu chở dầu hoặc các tàu chuyên chở tài nguyên chiến lược đến Trung Quốc. Nếu bảo tồn tốt lực lượng và đánh du kích lâu dài, Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc tổn hại nặng nề sau 6 tháng chiến tranh.
Nếu cuộc chiến đi theo hướng này, hai bên sẽ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. Việt Nam có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo Trung Quốc đã chiếm tại Trường Sa, ngược lại, Trung Quốc sẽ lấn rất sâu vào khu vực lãnh hải ngoài vịnh Bắc Bộ kéo dài tới Hoàng Sa. Trong mọi tình huống, hai phía khó có thể quay lại thời kỳ hòa hoãn vì thiếu niềm tin và luôn phải đề phòng lẫn nhau.
Tổn thất chiến tranh của Việt Nam trong mọi trường hợp đều nặng hơn Trung Quốc. Các căn cứ không quân và hải quân bị tàn phá có hệ thống, các cảng biển khu vực phía bắc sẽ bị hủy hoại, hoạt động kinh tế Bắc Nam chịu nhiều ảnh hưởng. Ngược lại, Trung quốc sẽ bị tổn thất nặng tại phía Nam, và có thể mất quyền kiểm soát các căn cứ đã xây dựng tại Trường Sa do chúng nằm cách quá xa đất liền và quá gần đối thủ.
Diễn biến chiến tranh sẽ đi theo dự tính của Trung Quốc hay Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào việc bên nào sẽ chuẩn bị và áp dụng được lối chơi của mình lên đối phương. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người giữa hai bên và đây là điều hầu như không thể đoán định trước.
ĐẦU TƯ QUỐC PHÒNG CHUẨN BỊ CHO NGUY CƠ CHIẾN TRANH
Thời gian qua Việt Nam đã chi nhiều tỷ USD để mua sắm máy bay, tàu ngầm và đóng mới chiến hạm. Số khí tài này đã tăng nhanh cấp thời năng lực chiến tranh của Việt Nam, nhưng nó đều là các sản phẩm đi mua, số lượng rất ít, thậm chí số đạn tên lửa và bom dùng kèm với chúng cũng không nhiều và phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nhập khẩu. Việt Nam không thể đánh lâu dài nếu đặt cược vào nguồn cung vũ khí từ Nga do các yếu tố chính trị khó dự đoán. Đây là điều đầu tiên cần tính toán tới trong đầu tư quốc phòng.
Đa dạng hóa nguồn cung, do đó là một tất yếu. Có lẽ ngay từ bây giờ, Việt Nam nên tiếp cận với các nguồn cung vũ khí từ Nhật Bản. Hai loại vũ khí Việt Nam có thể nhắm tới từ Nhật, là tàu tên lửa cỡ nhỏ và tên lửa diệt hạm đi kèm, cả các hệ thống mặt đất lẫn trên tàu chiến.
Hải quân Nhật hiện sở hữu lớp tàu tên lửa Hayabusa, lượng choán nước chỉ 200 tấn nhưng vũ trang cực mạnh và tính năng cực kỳ tiên tiến. Nó có kích cỡ nhỏ và thiết kế tàng hình, rất thích hợp ẩn núp và thực hiện các đòn đột kích bất ngờ từ các vịnh kín ven biển Việt Nam. Tốc độ tối đa của Hayabusa lên tới 46 hải lý/h kèm theo 04 tên lửa diệt hạm SSM -1B, tầm bắn 150 km có khả năng tiêu diệt các tàu trọng tải tới 8000 tấn chỉ bằng một đầu đạn. Có thể nói đây là một loại vũ khí rất thích hợp với Việt Nam nếu phải đánh nhau với hải quân Trung Quốc. Và điều quan trọng nhất là nguồn cung vũ khí từ Nhật sẽ ổn định và đáng tin cậy hơn Nga nhiều trong tình huống chiến tranh. (Với tình hình chính trị Nga hiện nay, trong tình huống chiến tranh cần tính tới việc TQ có thể bỏ ra 10 tỷ USD từ quỹ dự trữ trên 3000 tỷ USD để hối lộ Nga, xác suất cao là Nga sẽ cắt nguồn cung vũ khí cho Việt Nam nếu trường hợp này diễn ra)
Vũ khí Nhật có nhược điểm là giá thành cao do Nhật chưa từng xuất khẩu và do đó chi phí duy trì dây truyền sản xuất rất lớn. Tuy nhiên việc Nhật viện trợ cho Việt Nam tới 30 tỷ USD trong những năm qua là một cơ sở cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể tìm kiếm một khoản tín dụng từ 2 - 5 tỷ USD nếu chuyển hướng sang nguồn cung cấp quốc phòng của Nhật. Điều này phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam và tất nhiên là cả Nhật Bản nữa. Nó cần được xúc tiến ngay từ bây giờ.
Tuy nhiên mọi giải pháp mua sắm đều không phải là giải pháp căn cơ. Năng lực chiến tranh lâu dài chủ yếu của một quốc gia phải dựa vào năng lực quốc phòng nội địa. Thời gian qua báo chí loan tin Việt Nam đã tự sản xuất được dòng tên lửa diệt hạm KCT15 tương tự KH35-UranE của Nga trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Nga. Đây là một tin tốt, nhưng có lẽ vẫn rất đáng ngờ. Điều chắc chắn là hầu hết các bộ phận cấu thành trọng yếu nhất của tên lửa này, Việt Nam vẫn phải nhập từ Nga, ví dụ các thiết bị điện tử, cảm biến, radar dẫn bắn ... Do đó ngay cả nếu Việt Nam tự sản xuất hoàn thiện được trong nước, thì nó vẫn cứ lệ thuộc vào nguồn cung từ Nga. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu ngay từ lúc này.
Một loại vũ khí có từ thế chiến thứ nhất nhưng vô cùng hiệu quả là thủy lôi. Do Trung Quốc có nhiều hạm tàu giá trị cao và lệ thuộc cực lớn vào thương mại đường biển. Việc Việt Nam sản xuất và sử dụng ồ ạt thủy lôi sẽ là một cách có chi phí rẻ nhất và tổn thất ít nhất để làm rối loạn dòng thương mại và cả hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biển. Đây là một điều cần tính toán rất kỹ ngay từ bây giờ. Cần nghiên cứu sản xuất các loại thủy lôi để có thể giải được bằng thậm chí tàu cá.
Do khoảng cách Việt Nam - Trung Quốc rất gần, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát trên không nên phương tiện chiến tranh hiệu quả nhất để đánh quỵ hải quân Trung Quốc là tàu ngầm. Tàu kilo của Việt Nam có sức chiến đấu mạnh, tính răn đe lớn nhưng cũng dễ tổn thương và nếu tổn thất thì sẽ không thể bù đắp được. Việt Nam cần tính toán tới việc tự sản xuất các tàu ngầm cỡ nhỏ, với chi phí thấp, trang bị loại vũ khí như ngư lôi tầm xa có thể giúp xoay chuyển cán cân chiến tranh giữa Việt Nam với Trung Quốc. Từ các hoạt động sản xuất tàu ngầm tự phát của ông Phan Bội Trân hay ông Nguyễn Quốc Hòa, với giá thành rất rẻ, cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được các tàu ngầm cỡ nhỏ, số lượng lớn. Các tàu ngầm này có thể giúp Việt Nam phong tỏa các căn cứ hải quân Trung Quốc tại Hải Nam bằng các đòn đột kích hoặc phục kích ban đêm. Chúng cũng có thể làm tê liệt mọi hoạt động chi viện cho các căn cứ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Và điều quan trọng nhất, là các tàu ngầm này có thể hoạt động mà không cần căn cứ. Nó thậm chí có thể tiếp vận dễ dàng bằng các tàu cá nhỏ, khác với kilo cần đến những căn cứ tốn kém, dễ bị phát hiện và dễ tổn thương. Điều quan trọng là sự tổn thất của các tàu ngầm loại này là chấp nhận được với Việt Nam, trong khi đó chúng lại có khả năng gây phiền toái lớn cho những con tàu có giá trị rất cao của hải quân Trung Quốc.
CHUẨN BỊ MẶT TRẬN VỀ NGOẠI GIAO.
Trước khi chiếm Crimea, Putin vô cùng tự tin là vũ khí khí đốt của mình sẽ rất khó thay thế với châu Âu, và nước Nga do đó rất khó có thể bị châu Âu cô lập. Quả thực các nước châu Âu do Đức dẫn đầu đã vô cùng khó khăn khi đưa ra các quyết định trừng phạt kinh tế Nga, thậm chí là vô cùng miễn cưỡng. Nhưng Châu Âu hùng mạnh hơn người ta nghĩ và năng lực thích nghi của các cơ chế thị trường ở Châu Âu lớn vượt mọi hình dung. Đến nay đã hơn 2 năm Nga bị cô lập khỏi châu Âu và Châu Âu thì đã hoàn toàn thích nghi sau cú sốc ban đầu. Trong khi đó nước Nga kiệt quệ.
Việt Nam hiện nay có quan hệ kinh tế và chính trị rất tốt với phương Tây, quan hệ với Mỹ cũng nồng ấm hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Việt Nam cũng đã gia nhập TPP, về bản chất chính là một dạng Nato kinh tế do Mỹ dẫn đầu nhằm loại Trung Quốc khỏi các luật chơi thương mại. Trong trường hợp bị Trung Quốc lôi vào một cuộc chiến, Việt Nam cần nỗ lực bằng mọi giá để đạt được các trợ giúp về ngoại giao, kinh tế và pháp lý từ các nước châu Âu. Trong khi đó, các nước như Mỹ, Nhật và Ấn Độ, vì nhiều lý do chiến lược thiết thực hơn, có thể giúp Việt Nam nhiều hơn về phương tiện chiến tranh. Trong mọi trường hợp, nguồn cung vũ khí từ Nhật và Ấn Độ cần được tính toán tới, đặc biệt là từ Nhật Bản, vì đó sẽ là nguồn cung có thể tin cậy được trong trường hợp có chiến tranh với Trung Quốc.
Sự tồn tại của Campuchia, Thái Lan và phần nào đó là Lào đã khiến Trung Quốc xé nát hoàn toàn sự đoàn kết của ASEAN. Tính đến nay, sự tồn tại của ASEAN đem lại rất ít lợi ích thực tế cho Việt Nam, cả về kinh tế, chính trị lẫn thương mại. Việt Nam hầu như nhập siêu từ hầu hết các nước Asean nhóm trên, cơ cấu hàng hóa rất tương đồng và bị cạnh tranh mạnh, thậm chí ngay trên sân nhà. Các hiệp định kinh tế ký với tư cách cộng đồng ASEAN với các nước khác trên thực tế hầu như đã được thay thế bởi các hiệp định thương mại song phương ký trực tiếp giữa Việt Nam với các nước đó, ví dụ BTA với Mỹ, FTA với EU, gần đây nhất là FTA với Hàn Quốc và các thỏa thuận thương mại với Nhật Bản - Đó đều là những đối tác kinh tế và đầu tư lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. Với phần còn lại của thế giới, hoạt động thương mại của Việt Nam được điều chỉnh trong khuôn khổ WTO. Có thể nói, cơ chế ASEAN hiện nay có rất ít giá trị đối với Việt Nam, thậm chí các hiệp định thương mại ký giữa Trung Quốc và ASEAN đang gây hại cho Việt Nam, vì Việt Nam là nước lớn duy nhất trong ASEAN có chung biên giới với Trung Quốc, các nước khác thì không. Do đó nhiều điều khoản vô hại với họ nhưng gây tổn hại nặng cho Việt Nam.
Trong nhiều năm qua Việt Nam và nhiều nước Asean như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philipin cố gắng sử dụng cơ chế đống thuận Asean để đàm phán giải quyết biển Đông với Trung Quốc nhưng đã bị Trung Quốc dùng con cờ Campuchia, Thái Lan và Lào phá nát. Campuchia thậm chí còn lợi dụng điều này để thu về các khoản viện trợ và đầu tư béo bở từ Trung Quốc. Campuchia làm vậy chẳng có gì sai, họ phải vì lợi ích của mình. Nhưng việc Việt Nam cứ để chuyện đó diễn ra thì lỗi thuộc về Việt Nam.
Có lẽ Việt Nam cần ngồi lại với Philipin, Indonesia, Singapore và Malaysia để bàn tới việc thiết lập một cộng đồng kinh tế 5 nước, lấy tên là Cộng đồng kinh tế vành đai biển đông chẳng hạn. Ít nhiều tầm nhìn giữa Việt Nam và các nước này đối với các vấn đề chung trong khu vực đều có nhiều điểm chung và chia sẻ được nhu cầu duy trì hòa bình và hiện trạng tại biển Đông. Và Việt Nam cần tính tới việc rút khỏi Asean, hoặc nếu không thì cũng đình chỉ các hiệp định thương mại gây hại cho mình từ asean, đồng thời chấm dứt việc trông chờ vào các tuyên bố chung asean trong câu chuyện biển đông. Điều đó sẽ có tác dụng cảnh tỉnh các quốc gia như Campuchia, vốn được lợi nhiều khi tham gia vào khối, và thậm chí là vô hiệu hóa luôn quân cờ Trung Quốc tốn sức đầu tư này.
Mỹ là cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Nó vẫn luôn có nhu cầu làm bá chủ. Nước Mỹ chinh phục thế giới bằng thương mại, văn hóa và quyền lực mềm. Trên thực tế Mỹ không có tham vọng về lãnh thổ. Nó từng trả độc lập vô điều kiện cho Philipin ngay khi kết thúc thế chiến hai. Mỹ cũng không chiếm của Nhật Bản hay của Đức, những quốc gia bại trận, dù chỉ một mẩu đất. Nước Mỹ tuy yếu đi nhưng vẫn vô cùng hùng mạnh. Dù thế nó có quá nhiều mối bận tâm khi can thiệp ở mọi nơi trên thế giới. Các vấn đề Ucraina, Syria, Châu Âu và Triều Tiên đều khiến Mỹ bị phân tán và chia nhỏ nguồn lực. Do đó những thứ Mỹ còn để dốc vào biển Đông nếu nó muốn cũng không hề nhiều.
Mỹ chắc chắn không bao giờ đi đánh nhau thay cho ai. Nó chỉ đánh vì chính nó. Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc không đủ lớn để cấu thành chiến tranh nếu Trung Quốc chưa tấn công trực tiếp Nhật Bản hay Philipin. Do đó trông đợi vào Mỹ là một sự sai lầm, nhưng nếu không trông chờ vào nó thì lại là một sai lầm còn lớn hơn. Mỹ có thể dẫn đầu một cuộc chiến cấm vận một phần của phương Tây với Trung Quốc nếu Trung Quốc chủ động xâm lược láng giềng. Mức độ cấm vận có thể giống như những gì phương Tây đã làm với Nga: tăng dần theo thời gian và theo mức độ thích ứng của các cơ chế thị trường Âu châu. Tất nhiên Trung Quốc có thể tự tin rằng điều đó không thể xảy ra vì Trung Quốc đang là nhà cung ứng hàng hóa lớn nhất thế giới, cũng giống như Putin từng tự tin rằng Nga không thể bị cầm vận kéo dài, thậm chí bị từ chối mua khí đốt vì Nga là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho châu Âu. Kinh tế thị trường phương tây có khả năng thích nghi tuyệt vời. Chỉ cần có đủ thời gian, việc cấm vận một phần tiến tới toàn phần Trung Quốc là điều không phải Mỹ và đồng minh không làm được. Mỹ có nhu cầu làm việc này, và nó có thể ảnh hưởng tới các đồng minh đã gắn kết rất lâu dưới cái bóng của nước Mỹ.
Trong mọi tình huống, Việt Nam cần thúc đẩy mọi nỗ lực ngoại giao để tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước trên thế giới, dù chỉ là về tinh thần nếu Trung Quốc tấn công.
KẾT LUẬN:
Một cuộc chiến cục bộ tại Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam có thể bại tan tác và mất tất cả những gì còn lại nếu để Trung Quốc áp đặt luật chơi. Tuy nhiên nếu có chuẩn bị tốt và đánh theo cách của mình thì Việt Nam hoàn toàn có thể lật lại thế cờ.
Việt Nam sẽ chịu thiệt hại lớn trong mọi trường hợp, nhưng nếu thắng, nó sẽ giữ được Trường Sa, kiểm soát được vùng hải phận phía Nam và duy trì được chủ quyền với hải phận phía Bắc. Điều cốt tử là Việt Nam sẽ thoát khỏi bóng ma kinh tế Trung Quốc. Nó sẽ gắn kết chặt hơn với Mỹ, Nhật, Châu Âu, vốn là những đối tác Việt Nam có thể buôn bán thực sự bình thường, chứ không phải buôn bán với một đối tác luôn có động cơ phá hoại như Trung Quốc. Cái giá phải trả của Việt Nam là lớn, nhưng tương lai đất nước sẽ sáng sủa hơn rất nhiều. Tất nhiên, với điều kiện Việt Nam phải trụ được trong cuộc chiến cục bộ ấy chứ không phải là thất bại.
Tuy nhiên cách tốt nhất để thắng một cuộc chiến tranh là ngăn ngừa nó xảy ra. Vì thế thay vì việc ngồi chờ để đợi đến lúc Trung Quốc chọn một thời cơ thích hợp đánh Việt Nam, chúng ta cần tìm mọi cách để Trung Quốc không có cái thời cơ ấy. Điều tốt nhất có thể làm là củng cố năng lực quốc phòng ngày một mạnh, thắt chặt các mối quan hệ kinh tế với các đối tác tốt, kiểm soát và loại trừ sự thâm nhập và tràn ngập lãnh thổ phi pháp của công nhân và thương nhân Trung Quốc mà đi kèm theo đó chắc chắn là vô số nhân viên tình báo. Chuẩn bị mọi phương án để bảo tồn lực lượng trước các đòn tất công bất ngờ, bảo mật các căn cứ... Để khiến Trung Quốc nhận thức rõ nó không thể đánh Việt Nam, và nếu đánh sẽ phải bước vào một cuộc chiến không có đường ra. Giải pháp bền vững nhất thì chính là việc thay đổi thể chế, thúc đẩy dân trí, xây dựng xã hội dân chủ tự do để phát huy tối đa tiềm năng con người, biến Việt Nam thành một quốc gia văn minh về văn hóa, phồn thịnh về kinh tế và mạnh mẽ về quốc phòng, gia nhập và hòa nhập được với các nước phát triển trên thế giới. Tất nhiên điều này đòi hỏi lộ trình thời gian không hề ngắn. Trước mắt, việc dân chủ hóa đất nước theo con đường Myanmar đang đi là cách thức phù hợp nhất với chế độ chính trị và đặc điểm xã hội hiện tại ở Việt Nam. Đó mới chính là thượng sách cho nguy cơ xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc.
(Còn tiếp)